Dòng họ Đinh Văn ở làng La Giáp (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) mang nỗi đau hai lần bị tru di, nhưng vẫn mang mạch sống bền bỉ, nhiều đời đều có người đỗ đạt, trong đó có 5 người đỗ đại khoa.

Đinh Hồng Phiên

Họ Đinh làng La Giáp từ thời Lê Trung Hưng có nhiều người đỗ đạt. Người đỗ khai khoa cho dòng họ là Đinh Hồng Phiên, đỗ Hương cống khoa thi năm 1783 thời vua Lê Hiển Tông. Khoa thi năm 1787, ông vượt qua được tam trường kỳ thi Hội, tương đương Phó bảng nhà Nguyễn, được cử làm Toản tu Quốc sử quán triều Lê.

Lúc này Bắc hà bất ổn, năm 1788 thì lọt vào tay nhà Tây Sơn. Đinh Hồng Phiên không muốn làm quan cho nhà Tây Sơn nên về quê nhà làm thơ, dạy học.

Đến khi vua Gia Long lên ngôi lập ra nhà Nguyễn, ông mới ra làm quan và được trọng dụng, được thăng dần lên làm Đông các học sĩ và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh.

Năm 1833, Đinh Hồng Phiên đã 70 tuổi và xin được nghỉ hưu, nhưng vì ông có tài văn nên Triều đình cử ông làm giáo thụ Tân Bình ở miền nam.

Đinh Hồng Phiên vào nam làm giáo thụ dạy học đúng lúc cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi nổ ra ở Gia Định. Ông ủng hộ, thảo hịch kêu gọi dân chúng ủng hộ Lê Văn Khôi.

Tuy nhiên Triều đình đưa quân đến đánh khiến cuộc khởi nghĩa thất bại, Đinh Hồng Phiên phải đầu hàng và chết trên đường giải về kinh.

Vợ và 4 người con trai của ông vì thế mà cũng bị hành hình, trong số đó có Đinh Văn Phác đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1822.

Đinh Văn Chất

Đinh Văn Phác sau khi thi đỗ tiến sĩ thì được bổ nhiệm làm Tri phủ Bình Thuận. Vì cha ông theo cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi nên gia đình bị xử tru di, ông cũng bị hành hình.

Đinh Văn Phác có người vợ là Nguyễn Thị Tiềm, con gái của đại thi hào Nguyễn Du. Bà sinh được Đinh Văn Kế, rồi Văn Kế có người con trai là Đinh Văn Chất.

Đinh Văn Chất sinh trưởng trong dòng họ cả nội và ngoại đều giỏi thi thư, từ nhỏ đã được dạy dỗ về lễ nghĩa, học chữ cũng rất thông minh. Đến khoa thi năm 1875 thì ông đỗ tiến sĩ.

Thi đỗ, ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Nghĩa Hưng (Nam Định). Ông làm quan thanh liêm và gần gũi gắn bó với dân, nhờ đó mà dân chúng ở Nghĩa Hưng ngày càng yên ổn, an cư lạc nghiệp.

Nhờ được tiếng trị an tốt, năm 1882, ông được vua Tự Đức tặng thưởng: “Thưởng cho Tri phủ Nghĩa Hưng là Đinh Văn Chất 1 cái kim khánh có chữ ‘Liêm bình cần cán’.” (Đại Nam thực lục)

Khi quân Pháp tiến đánh Nam Định, Đinh Văn Chất cùng quân quyết giữ thành Nghĩa Hưng. Quân Pháp dùng vũ khí hỏa lực mạnh tấn công, Đinh Văn Chất cùng đội quân của mình quả cảm cầm chân quân Pháp suốt 3 ngày. Sau đó ông mới cho quân rút lui để bảo toàn lực lượng.

Đinh Văn Chất hình thành các nhóm chống Pháp mạnh ở Mỹ Trọng, Cầu Gia, Tiểu Cốc, xây dựng được các phòng tuyến vây quân Pháp suốt mấy tháng. Sau đó ông về Huế và theo phe chủ chiến. Triều đình cử ông xây dựng các phòng tuyến chống Pháp ở Tân Sở (Quảng Trị), Thanh Hóa, Nghi Lộc…

Năm 1885, Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi chạy đến Tân Sở. Đây là phòng tuyến chống Pháp chuẩn bị sẵn, trong đó có công lao lớn của Đinh Văn Chất.

Đinh Văn Chất cũng chỉ huy nghĩa quân quê nhà Nghi Lộc chống Pháp, hoạt động rộng khắp vùng Hà Tĩnh.

Tháng 8/1885, quân Pháp tập trung tiến đánh quân của Đinh Văn Chất. Quân Pháp huy động rất đông quân khố xanh, khố đỏ và hỏa lực mạnh khiến nghĩa quân dần tan vỡ. Triều đình Đồng Khánh lệnh cho Đinh Văn Chất bãi binh, tuy nhiên nghĩa quân quân chỉ công nhận vua Hàm Nghi mà không công nhận vua Đồng Khánh.

Đinh Văn Chất cho quân lập căn cứ ở Thanh Chương. Quân Pháp cho quân vây chặn căn cứ, chặn hết lương thảo. Tuy nhiên nghĩa quân vẫn cầm cự tiếp 2 năm đến năm 1887 thì tan vỡ, Đinh Văn Chất bị bắt.

Triều đình Đồng Khánh khép ông vào tội khi quân, tru di tam tộc. Đây là lần thứ hai dòng họ Đinh Văn phải chịu án tru di.

Các con trai của Đinh Văn Chất tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp đều bị giết hại. Em trai ông là Đinh Văn Uyển là danh sĩ có tiếng, thầy dạy của Phan Bội Châu, cũng bị khép tội chết.

Khu lăng mộ Tiến sĩ Đinh Văn Chất. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Đinh Văn Chí

Bấy giờ, con trai út của Đinh Văn Chất là Đinh Văn Chí mới chỉ 5 tuổi được dân chúng che giấu rồi đưa chạy trốn sang Phúc Kiến (Trung Quốc) lánh nạn. Dù phải thay đổi nơi ở để trốn tránh nhưng Văn Chí vẫn rèn chữ Thánh Hiền.

Năm 1898, Đinh Văn Chí trở về nước, để tránh lộ thân phận nên lấy tên là Đinh Văn Chấp. Ông được Lê Huy Thản đưa vào Huế học ở trường Quốc Tử Giám, vừa học vừa đi dạy thêm để có tiền nuôi sống bản thân và gia đình.

Khoa thi năm 1912, Đinh Văn Chấp dự thi và đỗ kỳ thi Hương tức cử nhân. Sang năm 1913, ông vượt qua kỳ thi Hội, vào thi Đình thì xuất sắc đỗ đầu tức Đình nguyên. Thi đỗ, ông được cử làm quan ở nhiều địa phương khác nhau, được đánh giá là vị quan liêm khiết thương dân.

Ông cũng để nhiều bút tích giá trị như các câu đối – hoành phi, cùng các bài thơ phản đối chế độ bảo hộ của người Pháp. Ông dịch nhiều bài thơ chữ Hán sang chữ quốc ngữ. Về sau này ông nghiên cứu Phật học và thơ văn, 11 người con của ông được xem là thành đạt vào thời đó.

Dòng họ Đinh Văn dù 2 lần bị tru di nhưng vẫn mang sức sống bền bỉ, suốt nhiều đời đều có người đỗ đạt, trong đó tổng cộng có 5 người đỗ đại khoa.

Nhà thờ tiến sĩ Đinh Văn Chất cùng các vị tổ dòng họ Đinh Văn được xây dựng ở làng Kim Khê, huyện Chân Lộc (nay thuộc xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) vào thời nhà Nguyễn. Hiện văn còn lưu lại gia phả, hoành phi, bia đá cùng một số sáng tác văn thơ có giá trị. Năm 2020, UBND tỉnh Nghệ An đã công nhận nhà thờ này là di tích lịch sử văn hóa.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: