Gần đây, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản đều siết chặt chính sách thị thực, trong khi Mỹ tiếp tục thắt chặt chính sách cấp thị thực du học. Cùng lúc đó, quy định xuất nhập cảnh mới nhất do chính quyền Trung Quốc ban hành cũng làm dấy lên lo ngại về xu hướng “đóng cửa đất nước”. Khi cả bên ngoài lẫn bên trong đều siết chặt, người Trung Quốc muốn du học, di cư hoặc thực hiện các kế hoạch ở nước ngoài đang phải đối mặt với ngày càng nhiều rào cản.

Ảnh minh họa (Nguồn: Mehaniq/Shutterstock)

Các chuyên gia pháp lý cho rằng tình trạng “đóng cửa ở cả hai đầu” sẽ khiến cơ hội di cư ra nước ngoài của người Trung Quốc ngày càng thu hẹp. Ngày càng nhiều người Hoa có thể cảm thấy bức bối và bất lực. Tuy nhiên, có ý kiến hy vọng tình thế này sẽ khiến nhiều người Trung Quốc “tỉnh táo” hơn, nhận ra tác hại mà ĐCSTQ gây ra cho người dân Trung Quốc và thế giới.

Nhật Bản nâng ngưỡng thường trú, đặc biệt yêu cầu “phẩm chất đạo đức tốt”

Ngày 4/8, Nhật Bản công bố dự thảo quy định mới về việc xin tư cách thường trú của người nước ngoài. Bên cạnh điều kiện cơ bản là phải sinh sống tại Nhật ít nhất 10 năm, dự thảo còn yêu cầu người nộp đơn có thu nhập hằng năm cao hơn mức bình quân của các hộ gia đình Nhật Bản, năng lực tiếng Nhật đạt trình độ “người sử dụng độc lập”, đồng thời đáp ứng các điều kiện như “phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng độc lập duy trì cuộc sống và phù hợp với lợi ích quốc gia của Nhật Bản”.

Tính đến cuối năm 2025, Nhật Bản có khoảng 947.000 người nước ngoài có tư cách thường trú, trong đó người Trung Quốc đông nhất, khoảng 360.000 người, chiếm gần 40%. Tổng số người Trung Quốc tại Nhật khoảng 930.000, cũng là cộng đồng đông nhất trong số 4,12 triệu cư dân nước ngoài tại nước này, chiếm hơn một phần năm. Ngoài người có tư cách thường trú, người Trung Quốc tại Nhật còn gồm khoảng 145.000 du học sinh, 115.000 người có thị thực lao động và một bộ phận có thị thực phụ thuộc.

Rõ ràng, cộng đồng người Hoa tại Nhật sẽ là nhóm chịu ảnh hưởng mạnh nhất từ quy định thường trú mới. Quy định này dự kiến được thực hiện từ tháng 4/2027, nhưng sẽ áp dụng với các hồ sơ nộp từ tháng 4/2026.

Cựu luật sư Bắc Kinh Lại Kiến Bình cho rằng, xét từ góc độ địa chính trị, việc Nhật Bản siết chặt quy định thường trú cho thấy “quan hệ Trung – Nhật đã xuống mức đóng băng”, một trạng thái hiếm thấy trong nhiều năm qua.

Ông nói: “Hiện nay, quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới không phải ngày càng tốt mà ngày càng xấu. Những nước vốn có quan hệ tốt nay trở nên không tốt; những nước vốn quan hệ không tốt thì nay lại càng xấu thêm”. Theo ông, nếu Trung Quốc, tức Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), dùng vũ lực nhằm thôn tính Đài Loan, không loại trừ khả năng Trung Quốc và Nhật Bản có thể xảy ra xung đột quân sự.

Mặt khác, ông Lại cho rằng nhiều người Trung Quốc di cư không thể hòa nhập với lối sống và các giá trị văn hóa tại địa phương, trở thành một nhóm “lạc lõng”. Ông cũng nói một số người Hoa có xu hướng “chủ nghĩa vị kỷ tinh vi”, thậm chí trở thành “kênh để ĐCSTQ mở rộng và thâm nhập ra bên ngoài”, có thể gây ra một mức độ “ô nhiễm văn hóa” đối với hệ giá trị xã hội bản địa.

Nhà văn người Đài Loan sống lâu năm tại Nhật Bản, Phúc Trạch Kiều, từng viết trên mạng xã hội vào đầu tháng 6 rằng sự bất mãn của xã hội Nhật đối với cộng đồng người Trung Quốc không hình thành chỉ trong một sớm một chiều. Ông đề cập vụ một “người có ảnh hưởng” mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, nhằm thu hút lượt xem, đã công khai gây rối tại nhà hàng “Vivienne Westwood” ở Tokyo; khi đó, cộng đồng người Trung Quốc tại Nhật lại lựa chọn im lặng.

Theo ông Phúc Trạch Kiều, khi một cộng đồng để mặc một số ít thành viên làm điều xấu, phá hoại trật tự xã hội mà không muốn ngăn chặn, cái giá cuối cùng sẽ là toàn bộ cộng đồng phải gánh chịu “hiệu ứng boomerang”. Ông kêu gọi cộng đồng người Trung Quốc xem xét mối quan hệ nhân quả đằng sau việc Nhật Bản siết chính sách thị thực.

Mỹ tiếp tục siết thị thực và nhập cư

Ngày 4/8, Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư (CIS), một tổ chức nghiên cứu tại Washington, công bố báo cáo cho biết số thị thực du học F-1 được cấp cho người nộp đơn Trung Quốc đã giảm mạnh kể từ khi chính quyền Tổng thống Trump siết chặt chính sách này vào năm ngoái. Năm 2025, số thị thực F-1 cấp cho công dân Trung Quốc giảm 34% so với năm 2024 và giảm 46% so với mức trung bình của các giai đoạn 2017-2019 và 2021-2024.

Hiện Chính phủ Mỹ tiếp tục siết toàn diện chính sách nhập cư và thị thực đối với du học sinh Trung Quốc, người nhập cư hợp pháp và người nhập cư bất hợp pháp, chẳng hạn những người vượt biên trái phép. Theo bài viết, từ ngày 15/9 năm nay, người có thị thực du học chỉ được phép lưu trú tại Mỹ trong thời hạn cố định, tối đa bốn năm cho mỗi lần nhập cảnh, và cơ chế lưu trú theo diện D/S — vốn cho phép gia hạn theo thời gian học — sẽ bị bãi bỏ.

Cuối tháng 5 năm nay, Mỹ công bố điều chỉnh lớn trong chính sách nhập cư: trừ trường hợp đặc biệt, người không định cư đang ở Mỹ, như người có thị thực du học, lao động tạm thời hoặc du lịch, khi xin thẻ xanh phải trở về quốc gia gốc để làm thủ tục.

Theo thống kê được bài viết trích dẫn, tổng số người gốc Hoa tại Mỹ hiện khoảng 5,4 – 5,5 triệu người. Trong 5 năm qua, số người Trung Quốc tại Mỹ, bao gồm cả diện hợp pháp lẫn bất hợp pháp, đã tăng thêm khoảng 600.000 đến 1,15 triệu người.

Giáo sư Tôn Quốc Tường, giảng viên ngành Quan hệ quốc tế và Quản trị kinh doanh tại Đại học Nam Hoa, Đài Loan, cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung, Mỹ có thể điều tra kỹ hơn lý lịch của người nộp đơn mang quốc tịch Trung Quốc, nhất là các vấn đề liên quan đến nghiên cứu công nghệ, kết hợp quân sự – dân sự, an ninh dữ liệu và ảnh hưởng chính trị. Ông nói việc di cư của người Trung Quốc sẽ trở nên khó khăn hơn, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc các nước dân chủ đồng loạt bài xích người Hoa.

EU siết “hộ chiếu vàng”

Ngày 25/6, Ủy ban châu Âu chính thức yêu cầu 5 quốc gia Caribe từng bước chấm dứt chương trình “đầu tư đổi quốc tịch” (CBI), thường được gọi là “hộ chiếu vàng”, trước ngày 1/6/2028. Nếu không, EU có thể tước quyền miễn thị thực vào 29 nước trong khu vực Schengen đối với công dân các nước này.

Trong số những người xin “hộ chiếu vàng”, người nộp đơn Trung Quốc cũng chiếm tỷ lệ lớn. Chẳng hạn, trong vài năm qua, người Trung Quốc chiếm từ 50% đến 70% số người được Dominica và Grenada cấp hộ chiếu vàng.

Nhà kinh tế học Hoàng Đại Vệ (Davy Jun Huang), sống tại Mỹ, nói với Epoch Times rằng nhiều gia đình giàu có Trung Quốc dùng hộ chiếu vàng để “vượt qua các hạn chế của hộ chiếu Trung Quốc”, chủ yếu nhằm có được khả năng di chuyển toàn cầu và làm bàn đạp để tiếp cận EU và Mỹ.

Giáo sư Tôn Quốc Tường cũng cho rằng việc siết hộ chiếu vàng đồng nghĩa con đường lâu nay của tầng lớp trung lưu và thượng lưu Trung Quốc — dùng tiền để nhanh chóng “ra nước ngoài” — sẽ ngày càng khó khăn.

Ông Lại Kiến Bình cho biết, chương trình hộ chiếu vàng của 5 nước Caribe và “thị thực vàng” tại Bồ Đào Nha cùng một số nước khác ban đầu đều nhằm thu hút đầu tư. Tuy nhiên, theo ông, một số “nhà đầu tư” Trung Quốc sau khi vào châu Âu không thực sự đầu tư hoặc mở rộng sản xuất, mà góp phần đẩy giá cả và giá nhà tăng cao, đồng thời làm giảm mức phúc lợi bình quân mà cư dân địa phương được hưởng trong y tế, giáo dục, môi trường và giao thông. Điều này đã gây ra phản đối tại nhiều nơi.

Ông Hoàng Đại Vệ cho rằng những người Trung Quốc xin hộ chiếu vàng thường có chất lượng tương đối cao, dễ tiếp cận hơn với các giá trị của các nước dân chủ. Theo ông, việc dùng tiền để có tư cách cư trú hoặc quốc tịch vẫn “sạch” hơn và ít rủi ro hơn so với các phương thức di cư bất hợp pháp như kết hôn giả hay vượt biên trái phép.

Ông Lại nói một số người Trung Quốc, trong thời gian chờ nhận hộ chiếu vàng, có thể đã bán doanh nghiệp và nhà cửa ở Trung Quốc để chuẩn bị rời đi. Khi chính sách đột ngột siết lại, họ có thể rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Ông Hoàng nhận định hộ chiếu vàng cũng là lựa chọn của nhiều gia đình giàu có Trung Quốc nhằm bảo vệ an toàn cá nhân và bảo hiểm tài sản. Khi chính sách bị siết, họ sẽ cần tìm các lộ trình khác, tái sắp xếp lại tài sản và tình trạng cư trú trên phạm vi toàn cầu; nhu cầu này vẫn rất lớn.

Trung Quốc cũng siết quản lý xuất cảnh

Trong khi các nước phương Tây siết chính sách thị thực, chính quyền Trung Quốc vào cuối tháng 7 cũng công bố quy định mới về xuất nhập cảnh, khiến nhiều ý kiến đặt câu hỏi liệu đây có phải là xu hướng “đóng cửa đất nước” hay không. Quy định mới dự kiến có hiệu lực từ ngày 15/9.

Theo quy định này, nhân lực trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và kỹ thuật được đưa vào phạm vi quản lý và có thể bị hạn chế xuất cảnh. Công dân Trung Quốc bị cho là “gây hại cho an ninh và lợi ích quốc gia” ở nước ngoài có thể bị cấm xuất cảnh sau khi về nước. Nhân viên tại cửa khẩu có quyền “khuyên can” công dân không xuất cảnh. Các đơn vị môi giới di cư cũng sẽ bị quản lý chặt hơn.

Ông Lại Kiến Bình cho rằng người Trung Quốc, giống như người dân ở khắp nơi trên thế giới, đều hướng tới một lối sống tự do và tốt đẹp hơn. Theo ông, nhiều người cảm thấy ngột ngạt tại Trung Quốc vì thiếu tự do chính trị và xã hội, trong khi tình hình kinh tế tiếp tục xấu đi, khiến họ tuyệt vọng và lựa chọn “bỏ phiếu bằng đôi chân”, đi tìm một nơi khác để an cư lập nghiệp và có triển vọng sống tốt hơn.

Ông nói những người này cũng thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội Trung Quốc, có điều kiện kinh tế, tài sản tương đối cao, có yêu cầu đối với môi trường tự nhiên, điều kiện xã hội – nhân văn và đời sống tinh thần. Tuy nhiên, theo ông, ĐCSTQ muốn giữ họ, cùng vốn, năng lượng và công nghệ, ở lại trong “nhà tù lớn” là Trung Quốc, nên tìm cách hạn chế hoặc cấm họ ra nước ngoài.

Ông nói: “Bây giờ bên ngoài đóng cửa, trong nước cũng đóng cửa; như vậy họ chỉ có thể sống u uất cho đến hết đời trong ‘nhà tù lớn’ này, sẽ rất khổ sở, nhiều người thậm chí có thể rơi vào tuyệt vọng”.

Người Hoa bị chặn ở cả hai phía

Ông Hoàng Đại Vệ nhận định ĐCSTQ càng muốn giữ nhân tài và vốn trong nước thì càng buộc nhân tài và dòng vốn này rời đi sớm hơn. Theo ông, tình trạng này đang tạo nên sự “cô lập hai chiều”: người tài trong nước ngày càng muốn ra đi, trong khi người tài ở bên ngoài ngày càng không dám trở về Trung Quốc.

Giáo sư Tôn Quốc Tường cho rằng nếu xu hướng siết chặt cả bên trong lẫn bên ngoài kéo dài 5–10 năm, dòng vốn tháo chạy có thể được kiểm soát ở mức độ nhất định, nhưng cảm giác bất an của tầng lớp trung lưu sẽ tăng lên.

Ông Lại Kiến Bình nói 20 năm trước, người ta khó hình dung Trung Quốc có thể ngừng “cải cách mở cửa” và ngừng hội nhập với xu thế toàn cầu. Tuy nhiên, theo ông, kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền, chính quyền Trung Quốc liên tục đi ngược dòng, nên trong tương lai hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng “đóng cửa đất nước”. Ông cho rằng nếu sự cai trị của ĐCSTQ phát triển đến một mức độ nhất định, chính quyền có thể đóng hẳn biên giới bằng phương thức siết dần từng bước, giống như “luộc ếch trong nước ấm”.

Ngoài ra, ông Lại cho rằng một số người Trung Quốc tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản có thể hoạt động như gián điệp thương mại hoặc công nghệ, hoặc bị ĐCSTQ lợi dụng để đánh cắp bí mật công nghệ và thương mại, qua đó khiến nhiều nước muốn ngăn chặn họ ngay từ bên ngoài.

Ông Hoàng nói, tại châu Âu, ngày càng có nhiều gián điệp của ĐCSTQ giả dạng người giàu để lấy hộ chiếu vàng, sau đó xâm nhập vào Mỹ và các nước châu Âu, đe dọa an ninh quốc gia. Theo ông, đây là cách tầng lớp cầm quyền Trung Quốc lợi dụng các lỗ hổng của phương Tây để thâm nhập, khiến các nước phương Tây buộc phải siết chính sách với tất cả người nộp đơn.

Ông Lại Kiến Bình nhận định việc “đóng cửa ở cả hai phía” sẽ tạo ra nhiều nhóm người Trung Quốc cảm thấy bức bối và bất lực. Tuy nhiên, ông cho rằng những người đã tỉnh táo sẽ tiếp tục tỉnh táo, còn những người chưa nhận ra vấn đề có thể bị chính các biện pháp của ĐCSTQ buộc phải thức tỉnh, từ đó nhận thấy tác hại mà ĐCSTQ gây ra cho người dân Trung Quốc và thế giới.

Theo Trình Văn, Dịch Như / Epoch Times