Cựu quan chức trong hệ thống Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là Đỗ Văn mới đây tiết lộ, ông nhận được một bản báo cáo điều tra kinh tế nội bộ do Văn phòng Trung ương ĐCSTQ tổng hợp, được Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Thái Kỳ ký rồi trình lên ông Tập Cận Bình. Ông cho rằng bản báo cáo này phản ánh việc “ba cỗ xe kéo” của kinh tế Trung Quốc đã tắt máy hoàn toàn, toàn bộ nền kinh tế đã bước vào tình trạng “ung thư giai đoạn cuối”. Các chuyên gia nhận định, điều đáng sợ nhất đối với ĐCSTQ không chỉ là khủng hoảng kinh tế, mà là khủng hoảng đó chuyển hóa thành khủng hoảng quản trị, rồi khủng hoảng chế độ.

Ảnh minh họa: Một người đàn ông đang đi xe đạp chở hàng, chất đầy các vật liệu tái chế, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 4/4/2017. (Nguồn: testing/Shutterstock)

Ba cỗ xe kéo tắt máy: tiêu dùng thấp, nợ cao, siết kiểm soát trở thành “bình thường mới”

Báo cáo nội bộ của ông Thái Kỳ tập trung vào ba “động cơ” truyền thống của kinh tế Trung Quốc: đầu tư, xuất khẩu và nhu cầu trong nước. Về đầu tư, đầu tư tài sản cố định thấp hơn kỳ vọng, đầu tư tư nhân thì “chán nản, thu mình”. Về xuất khẩu, làn sóng doanh nghiệp di dời ra nước ngoài lan rộng, năng lực sản xuất tiên tiến chuyển sang Việt Nam, Mexico, Ấn Độ… Về tiêu dùng, cầu trong nước suy yếu, thất nghiệp thanh niên là mấu chốt, trong khi làn sóng lao động di cư (công nhân xuất thân từ nông thôn) hồi hương trên diện rộng làm bùng lên tình trạng tái nghèo, khiếu kiện gia tăng và áp lực quản trị ở cơ sở.

Phó Hiệu trưởng Đại học Khai Nam (Đài Loan) Trần Văn Giáp trong chương trình “Tin tức Mọi người Cùng bàn” của NTDTV nhận định, tính xác thực của báo cáo này không thể kiểm chứng 100%, nhưng nội dung lại “rất giống” với tình trạng thực tế ở Trung Quốc Đại Lục hiện nay.

Số liệu công khai cho thấy, doanh số bán lẻ của Trung Quốc tháng 5 giảm 0,6%, đầu tư tài sản cố định trong 5 tháng đầu năm giảm 4,1%, còn đầu tư bất động sản sụt tới 16,2%. Theo ông Trần, điều này cho thấy cả tiêu dùng, đầu tư và bất động sản đều đang chịu áp lực nặng, nhưng kinh tế Trung Quốc hiện không còn là “suy thoái chu kỳ” đơn thuần, mà là nhiều nút thắt đồng thời chặn lại: đầu tư kéo không nổi, xuất khẩu chịu áp lực lớn, nhu cầu trong nước không bật lên được, còn nghiêm trọng nhất là vấn đề việc làm.

Về đầu tư, ông phân tích, trước đây chính quyền Bắc Kinh dựa vào hạ tầng cơ sở, bất động sản và vay nợ của chính quyền địa phương để kích cầu. Sau khủng hoảng tài chính 2008, gói kích cầu 4.000 tỷ NDT từng giúp kinh tế bật mạnh trong ngắn hạn, nhưng để lại hậu quả là nợ địa phương phình to, “thành phố ma” đầy rẫy, công suất dư thừa tràn lan. Hiện nay, dù địa phương phát hành trái phiếu, phần lớn tiền cũng không đổ vào công trình mới, mà để trả nợ cũ và bù đắp thâm hụt tài chính – giống như một gia đình vay tiền không phải để mở cửa hàng kiếm lời mà chỉ để trả nợ thẻ tín dụng, dòng tiền thực tế không tạo ra động lực tăng trưởng mới.

Về xuất khẩu, ông cho rằng các nhà máy Trung Quốc không phải không thể sản xuất, mà là biên lợi nhuận bị bào mòn, rủi ro lại tăng cao. Nhiều doanh nghiệp chuyển dây chuyền sang Việt Nam, Mexico, Ấn Độ là để né thuế Mỹ và giảm rủi ro địa chính trị, điều này tất yếu cũng làm suy yếu nhu cầu trong nước.

Về nhu cầu trong nước, ông Trần chỉ ra, người dân không dám tiêu tiền không phải vì không muốn mua, mà vì giá nhà lao dốc, công việc bấp bênh, chi phí y tế và dưỡng lão quá nặng. Thanh niên không tìm được việc tốt thì tất yếu “không mua nhà, không kết hôn, không sinh con”. Còn nếu nông dân công ồ ạt hồi hương, an ninh trật tự địa phương và áp lực khiếu kiện chắc chắn sẽ leo thang.

Đối với nhận định “kinh tế Trung Quốc quay lại mức 1997 hay 1999”, ông Trần cho rằng hiện quy mô công nghiệp của Trung Quốc đã lớn hơn rất nhiều so với giai đoạn đó, nhưng niềm tin xã hội thì có thể còn yếu hơn. Khi đó, Trung Quốc vẫn còn động lực gia nhập WTO, quá trình đô thị hóa và thị trường bất động sản đi lên; còn hiện tại, bất động sản lao dốc, dân số già hóa, vốn ngoại chần chừ, nhu cầu trong nước thiếu tự tin, lại chịu sức ép từ “chuỗi cung ứng không đỏ” do Mỹ và các nước khác thúc đẩy. Tình hình vì thế tệ hơn nhiều. Tuy vậy, nhìn tổng thể thì kinh tế Trung Quốc chưa “sụp ngay lập tức”, mà đang bước vào một giai đoạn “bình thường mới” với đặc trưng: niềm tin thấp, tiêu dùng yếu, nợ cao và kiểm soát chặt.

Điều Bắc Kinh sợ nhất: khủng hoảng kinh tế hóa thành khủng hoảng quản trị

Về vấn đề lao động di cư hồi hương quy mô lớn mà báo cáo đề cập, nhà báo kỳ cựu Lý Túc nhận định, rất nhiều người về quê không phải trong tư thế “vinh quang” với túi tiền đầy, mà là tay trắng, hết việc, hết tiền. Nhưng về quê lại càng khó tìm việc, vì cơ hội làm ăn không ở nông thôn mà ở thành phố, từ đó tích tụ thêm bất mãn, phát sinh thêm các vấn đề xã hội, chính là “áp lực quản trị cơ sở” mà báo cáo nhắc tới.

Theo ông, phương án tốt nhất dĩ nhiên là tạo nhiều việc làm tại nông thôn, nhưng trong bối cảnh tình hình kinh tế đã chững lại, ngay cả thành phố và các trung tâm kinh tế còn không làm nổi, thì nông thôn lại càng khó. Một phương án khác là chính phủ hỗ trợ bảo đảm mức sống tối thiểu cho lao động di cư hồi hương, kèm theo đào tạo lại về kiến thức, kỹ năng để họ có thể thích nghi với nhu cầu của các ngành nghề mới và tìm được việc làm lần nữa. Nhưng việc này đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, trong khi với cơ chế phân phối hiện nay, việc chính quyền thực sự bỏ tiền túi ra cho dân là khả năng rất thấp. “Bản thân họ vốn đã không muốn chia cho nông dân, mà chỉ muốn bóc lột nông dân, thì chuyện chi tiền cho lao động di cư lại càng khó,” ông nói.

Lý Túc cảnh báo, nếu kinh tế xấu đi, số người hồi hương càng nhiều, khả năng xuất hiện nhóm người lâm vào cảnh “sinh kế bấp bênh” là điều không tránh khỏi, từ đó làm bùng phát bất ổn xã hội, nhất là ở các vùng nông thôn. Và đây mới là điều ĐCSTQ lo sợ nhất. “Họ không lo về kinh tế tự thân, mà lo về làn sóng khiếu kiện, về áp lực cai trị do kinh tế sa sút kéo theo,” ông nhấn mạnh.

Phó Hiệu trưởng Trần Văn Giáp của Đại học Khai Nam (Đài Loan) cũng có đánh giá tương tự. Ông cho rằng, đối với ĐCSTQ, kinh tế dĩ nhiên quan trọng, nhưng điều họ lo không phải GDP giảm vài điểm phần trăm, mà là kinh tế xấu đi liệu có chuyển hóa thành bất mãn xã hội, biểu tình gia tăng, khiếu kiện dồn dập, cuối cùng đe dọa tới quản trị cơ sở và an ninh chế độ.

Ông chỉ ra, logic cai trị của ĐCSTQ rất đơn giản, chỉ dựa vào hai trụ cột: một là khiến dân tin rằng “ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay”, hai là dùng hệ thống duy trì ổn định xã hội để ngăn chặn bất mãn liên kết, tổ chức hóa. Một khi kinh tế đi xuống, trụ cột thứ nhất lung lay, thì áp lực dồn lên trụ cột thứ hai sẽ càng lớn.

Đưa ví dụ về bất động sản, ông nói: trước đây gia đình Trung Quốc coi nhà là tài sản, chính quyền địa phương dựa vào bán đất để nuôi ngân sách, doanh nghiệp địa ốc thì dùng cơ chế bán trước (pre-sale) để mở rộng. Nhưng sau khi các tập đoàn như Hằng Đại (Evergrande), Bích Quế Viên (Country Garden) vỡ nợ, những “chung cư bỏ hoang” xuất hiện ngày càng nhiều, cư dân các dự án này bắt đầu ngừng trả nợ vay, xuống đường phản đối, khiếu kiện. “Đối với Bắc Kinh, chuyện này nhạy cảm hơn việc giá nhà giảm đơn thuần rất nhiều,” ông nói.

Theo ông Trần Văn Giáp, điều ĐCSTQ thực sự sợ là “chính trị hóa vấn đề kinh tế”, cùng với hiện tượng tái nghèo, khiếu kiện tăng, và áp lực quản trị ở cơ sở phình to. Đây chính là mắt xích truyền dẫn từ khủng hoảng kinh tế sang khủng hoảng quản trị. “Đối với ĐCSTQ, đây mới là điều đáng sợ nhất,” ông kết luận.

Số liệu méo mó trầm trọng, kinh tế rơi vào khủng hoảng mà không biết cứu cách nào

Điều đáng chú ý là báo cáo nội bộ do ông Thái Kỳ ký được xây dựng trên một hệ thống điều tra dữ liệu độc lập, “vòng qua” hệ thống Thống kê Quốc gia. Bình luận gia chính trị – kinh tế kỳ cựu Ngô Gia Long trong chương trình “Giải mã thời sự” của NTDTV cho rằng điều này cho thấy ngay cả tầng chóp bu của ĐCSTQ cũng không tin vào số liệu thống kê chính thức của mình nữa.

Ông nói, chính bản thân ĐCSTQ hiểu rất rõ lượng “nước” trong số liệu đã quá nhiều, đến mức không còn tham khảo được. Hiện một số chuyên gia ước đoán quy mô kinh tế thực của Trung Quốc chỉ bằng khoảng “bốn phần mười” con số mà chính quyền công bố – nghĩa là nếu Bắc Kinh nói là 100, thì thực chất chỉ khoảng 40, dĩ nhiên chỉ là phỏng đoán dựa trên kinh nghiệm.

Ngô Gia Long nhắc lại, khi còn là Thủ tướng, ông Lý Khắc Cường đánh giá tình hình kinh tế vĩ mô không dựa vào báo cáo từ dưới lên vốn chứa đầy “nước”, mà dựa trên “chỉ số Lý Khắc Cường” với ba chỉ tiêu có thể kiểm chứng: lượng điện công nghiệp tiêu thụ (phản ánh quy mô vận hành thực tế của sản xuất), lượng cho vay trung dài hạn của ngân hàng (phản ánh ý chí đầu tư và thanh khoản), và khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt (phản ánh lưu thông logistics và mức độ sôi động của sản xuất).

Nhưng theo ông, ngay cả cách làm này bây giờ cũng không đủ nữa, nên họ buộc phải dựng hẳn một hệ thống dữ liệu mới để tìm kiếm những con số “gần sát thực tế hơn”. Tuy nhiên, việc thu thập số liệu phải có quy trình và chuẩn mực rất nghiêm ngặt: chỉ tiêu nào được tính, chỉ tiêu nào loại trừ, định nghĩa dữ liệu ra sao… đều không đơn giản. Việc xây dựng hệ thống thống kê và hạch toán quốc gia là một công việc rất phức tạp. Nhiều nhà kinh tế học có đóng góp nền tảng cho các hệ thống thống kê hiện đại của phương Tây, như Richard Stone hay Simon Kuznets, đã được trao giải Nobel Kinh tế.

Ông lấy ví dụ về thống kê thất nghiệp: muốn tính tỷ lệ thất nghiệp phải định nghĩa thế nào là “thất nghiệp”. Theo chuẩn hiện nay của Trung Quốc, cần đồng thời thỏa mãn hai điều kiện: có ý định tìm việc, nhưng vẫn chưa tìm được, mới được tính là thất nghiệp. Những người “nản chí” không muốn tìm việc nữa, hoặc không đi đăng ký, thì không được đưa vào thống kê. Kết quả là, nếu có một lượng lớn người vì thất nghiệp kéo dài mà rời khỏi thị trường lao động, thì số “người thất nghiệp” sẽ giảm, tỷ lệ thất nghiệp trên giấy tờ “cải thiện” – trong khi thực tế tình hình còn tệ hơn. Với cách thống kê như vậy, không thể nào đánh giá đúng vấn đề thất nghiệp, và càng không thể dựa vào đó mà căn chỉnh cho chính sách việc làm.

Ông Ngô Gia Long tổng kết, vì số liệu kinh tế của Trung Quốc bóp méo quá nặng, đánh giá vĩ mô cũng bị lệch lạc nghiêm trọng, nên chính quyền không biết lúc này nên nới lỏng hay siết chặt, không có cơ sở tin cậy để ra quyết sách. “Kinh tế đã rơi vào khủng hoảng: cứu cũng dở, không cứu cũng dở, không biết phải đối phó thế nào, kết quả là mọi thứ cứ xấu đi từng bước, kéo dài mãi, cuối cùng rất có thể sẽ trượt đến bờ sụp đổ. Gọi nó là ‘ung thư giai đoạn cuối’ cũng không quá lời,” ông nói.

Theo Vương Tịnh Thuần / Epoch Times