Họ Ngô đến thời nhà Hồ có Ngô Miễn giữ chức Tể tướng, ông cùng con trai chống lại quân Minh, giúp dân khai khá đất đai lập làng, đến nay dân chúng vẫn còn lưu truyền tưởng nhớ công lao hai cha con ông.

Giúp dân lập làng, cho dân đất đai

Năm 1371 thời nhà Trần, tại hương Xuân Hy (tên tục là làng Hẹ), huyện Kim Hoa, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc (nay thuộc phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) gia tộc họ Ngô sinh được người con trai tuấn tú, đặt tên là Ngô Miễn.

Sinh ra trong gia tộc danh giá, từ nhỏ Ngô Miễn đã thông minh, tính tình lại rộng rãi, gia đình cho đi học với thầy giỏi. Năm 1393 thời vua Trần Thuận Tông thì ông thi đỗ Thái học sinh.

Thi đỗ, Ngô Miễn được cử làm Đặc tiến quân sử Vinh lộc đại phu, coi quân Thiên Cương, rồi lại bổ sung thêm chức Xương phủ Tổng quản chi lăng, kiêm coi các lăng tẩm vua Trần ở phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay).

Nhận thấy đất Thiên Trường trù phú nhưng còn hoang vu do ít người, trong khi quê nhà mình thì đông đúc, ông xin Vua cho dân từ quê mình đến khai phá các vùng đất hoang ở Thiên Trường. Vua chuẩn tấu.

Người dân từ Xuân Hy đến vùng đất trù phú ở Thiên Trường, có 10 dòng họ là Ngô, Đỗ, Trần, Hoàng, Nguyễn, Phạm, Vũ, Đinh, Đào và Tạ khai hoang các bãi bồi. Ngô Miễn hướng dẫn dân đắp đê ngăn mặn để có nước ngọt.

Sau 4 năm từ năm 1392 đến năm 1396, ông đã cùng dân chúng khai khẩn được trên 200 mẫu ruộng và đặt tên cho vùng này là Nhật Hy (nay là làng Xuân Hy, xã Xuân Thùy, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định).

Lúc này là những năm cuối Triều đại nhà Trần, Triều đình suy yếu, quyền thần nổi lên, Ngô Miễn cáo quan về quê dạy học. Biết tiếng ông, học trò theo học rất đông. Ông cũng bàn với gia đình chia một ít tiền của ruộng đất nhà mình cho người nghèo để họ mưu sinh. Ông còn mua rất nhiều đất của nhà giàu rồi chia cho dân chúng các làng xã giúp họ có ruộng cày cấy. Những việc này đã mang lại nhiều phúc đức cho con cháu ông sau này.

Tể tướng giữ tròn khí tiết

Năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ, mời ông ra làm quan. Ông được giữ chức Nội thái giám quân thiên. Do làm tốt công việc, năm 1406 ông được thăng làm Hành khiển Thượng thư lệnh Hữu tham tri chính sự Đồng bình chương quân quốc trọng sự (tương đương chức Tể tướng).

Nhà Hồ lo chuẩn bị quân chống lại sự xâm lược của quân Minh, tuy nhiên nhiều chính sách của Vua ông không thể can thiệp. Những chính sách này khiến dân bất mãn. Năm 1407, nhà Minh tiến đánh. Ngô Miễn làm Hành khiển trong thời gian quá ngắn ngủi, không có cơ hội cống hiến cho Giang Sơn Xã Tắc.

Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần không được dân ủng hộ nên không thể chống nổi quân Minh. Có người khuyên Hồ Quý Ly nên tự sát tránh để sa vào tay giặc để giữ tròn khí tiết, nhưng Hồ Quý Ly không nghe.

Ngô Miễn cùng vợ chạy theo Vua, đến cửa khẩu biển Kỳ La thì vua tôi cùng đường. Giữ tròn khí tiết quyết không để sa vào tay giặc, Ngô Miễn cùng viên thuộc tướng Kiều Biểu nhảy xuống biển Kỳ La, vợ ông là Nguyễn Thị Thanh cũng nhảy xuống theo chồng.

Cùng nhà Hậu Trần chống quân Minh

Sau khi Ngô Mẫn mất, một người vợ khác của ông là Nguyễn Thi Hằng đưa người con trai là Ngô Quý Duật lánh nạn nơi quê ngoại ở trang Vỹ Nhuế (nay là xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Bà dạy con trai sống lương thiện và trung quân ái quốc như cha mình.

Sống trong cảnh áp bức của quân Minh nhưng gia đình khá giả, hai mẹ con có điều kiện giúp đỡ cho dân nghèo quanh mình.

Lúc này nhà Hậu Trần là lực lượng mạnh nhất chống lại quân Minh, Ngô Quý Duật mang theo 28 gia nhân cùng đầu quân cho nhà Hậu Trần, được giữ chức Tham tán Nhung vụ.

Ngô Quý Duật là tướng thủy quân, cùng tướng quân Đặng Dung dự nhiều trận đánh lớn như trận giữ thành Hóa châu, hỏa thiêu thuyền quân Minh ở Bình Than. Nhờ lập nhiều chiến công nên ông được Vua phong làm Chu sư Đại tướng khi mới 21 tuổi.

Quân Minh bị quân Hậu Trần đánh bại, nhưng vua Trùng Quang lại mong được cầu phong nên khiến cơ hội bị vuột mất. Nhà Minh cử Trương Phụ đưa thêm viện binh khiến quân Hậu Trần phải rút dần vào nam.

Cuối cùng quân Hậu Trần bị chia cắt mất liên lạc với nhau, Ngô Quý Duật cùng vua Trùng Quang chạy sang Ai Lao trước sự truy đuổi của quân Minh.

Khi vua tôi đến được Khăm Muội (thuộc Lào ngày nay) tưởng đã thoát, nào ngờ quân Minh đuổi đến bắt được Vua, nhưng Ngô Quý Duật may mắn thoát được.

den tho ngoquy duat
Đền thờ Chu sư Đại tướng Ngô Quý Duật. (Ảnh: Báo Nam Định)

Giúp dân trồng trọt, lập làng, huấn luyện trai tráng

Trở về nhà ở Vỹ Nhuế, ông cùng em gái là Ngô Ái Thường giúp dân quai đê lấn biển, trồng trọt lương thực. Ngô Quý Duật vẫn mong muốn đánh đuổi quân Minh, ông tập hợp được 200 hộ dân chia ra 5 khu (sau này hình thành 5 ngôi làng), ngoài trồng trọt lương thực, còn huấn luyện trai tráng để họ đầu quân cho các cuộc khởi nghĩa.

Năm 1470, Ngô Quý Duật mất, thọ 82 tuổi, dân chúng lập đền thờ tưởng nhớ công đức của ông.

Năm 1479, vua Lê Thánh Tông đi kinh lý đã ghé vào đền thờ ông, sau khi xét công đức thì cho phong thần, gọi là “Chương Đức Đại Vương”, cấp ruộng đất cho dân để thờ phụng. Các đời Vua sau này cũng có 9 đạo sắc phong.

Vua cũng phong cho bà Ngô Ái Thường là “Uy Minh Đại Vương”. Từ đó hàng năm người dân 5 làng lại tổ chức lễ rước thần (anh em Quý Duật và Ái Thường) vào 3 ngày 8, 9, 10 tháng Giêng, đây là dịp dân 5 làng thăm hỏi nhau cùng tưởng nhớ về công đức anh em họ Ngô khi xưa.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: