Trái cây nói chung mang lại nhiều lợi ích sức khỏe nhờ chứa chất xơ, vitamin và chất chống oxy hóa, góp phần tăng cường miễn dịch và bảo vệ hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, cách chế biến và tiêu thụ có thể thay đổi tác động sinh học của chúng. Nước ép, sinh tố và trái cây nguyên quả không chỉ khác nhau về cấu trúc mà còn về khả năng gây no, hấp thu dưỡng chất và ảnh hưởng đến đường huyết.

Ảnh minh họa: Wikimedia

Các dạng tiêu thụ trái cây

Nghiên cứu đăng trên Frontiers in Nutrition tập trung so sánh tác động sức khỏe của các dạng tiêu thụ trái cây khác nhau, bao gồm trái cây nguyên quả, sinh tố và nước ép. Trong khi các hướng dẫn dinh dưỡng hiện nay thường không phân biệt rõ giữa các dạng này, kết quả nghiên cứu cho thấy chúng có liên quan đến các kết cục sức khỏe rất khác nhau.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 443 người tham gia và chia họ thành bốn nhóm: nhóm ít tiêu thụ trái cây (làm mốc so sánh), nhóm uống nước ép, nhóm ăn trái cây nguyên quả và nhóm sử dụng sinh tố. Kết quả cho thấy nhóm dùng sinh tố có hồ sơ sức khỏe tốt nhất trong số các nhóm. Họ có tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính thấp hơn, bao gồm tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường. Đồng thời, họ cũng có điểm số sức khỏe thể chất và tinh thần cao hơn, ít phải đi khám bác sĩ hơn và có chỉ số BMI nằm trong giới hạn bình thường.

Ảnh minh họa: LightField Studios/Shutterstock

Ngược lại, nhóm tiêu thụ nước ép thể hiện các kết quả kém thuận lợi nhất. Nhóm này có tỷ lệ bệnh mạn cao hơn, điểm sức khỏe tổng thể thấp hơn và tần suất sử dụng thuốc kê đơn cao hơn. Đáng chú ý, sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ, khả năng mắc đái tháo đường ở nhóm nước ép cao hơn khoảng 14,6 lần so với nhóm ít ăn trái cây. Ngoài ra, nhóm này cũng có chất lượng giấc ngủ và mức năng lượng thấp hơn so với các nhóm còn lại.

Nhóm ăn trái cây nguyên quả cũng cho thấy nhiều chỉ số tích cực. Họ có BMI ở mức bình thường, sức khỏe tự đánh giá tốt và nguy cơ mắc bệnh thấp hơn nhóm tham chiếu. Tuy nhiên, mức độ cải thiện không rõ rệt bằng nhóm sử dụng sinh tố. Điều này cho thấy cả trái cây nguyên quả và sinh tố đều có lợi, nhưng sinh tố có thể liên quan đến kết quả tốt hơn trong dữ liệu quan sát này.

Một yếu tố quan trọng cần xem xét là sự khác biệt về lối sống giữa các nhóm. Những người sử dụng sinh tố có xu hướng tập thể dục nhiều hơn, ít hút thuốc, ít uống rượu và ít sử dụng chất kích thích. Trong khi đó, nhóm ít ăn trái cây có tỷ lệ các hành vi nguy cơ cao hơn. Điều này cho thấy mối liên hệ giữa sinh tố và sức khỏe có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu, và sinh tố có thể chỉ là một phần của lối sống lành mạnh tổng thể.

Cơ chế giải thích

Ảnh minh họa: denio109/ Shutterstock

Về mặt cơ chế, sinh tố có một số đặc điểm có thể giải thích cho các kết quả quan sát được. Khi trái cây được xay, cấu trúc tế bào bị phá vỡ, giúp giải phóng dưỡng chất và có thể tăng khả năng hấp thu. Khác với nước ép, sinh tố vẫn giữ lại phần lớn chất xơ, yếu tố quan trọng trong việc điều hòa đường huyết và tạo cảm giác no. Ngoài ra, hàm lượng vi chất như vitamin C và folate trong sinh tố có thể góp phần tăng hoạt tính chống oxy hóa, từ đó hỗ trợ sức khỏe tim mạch và chuyển hóa.

Tuy nhiên, nghiên cứu này có nhiều hạn chế. Đây là nghiên cứu cắt ngang, nên chỉ cho thấy mối liên quan chứ không chứng minh được quan hệ nhân quả. Dữ liệu được thu thập dựa trên tự báo cáo của người tham gia, nên có nguy cơ sai lệch do nhớ lại không chính xác hoặc thiên lệch xã hội. Nghiên cứu cũng không đo lường cụ thể lượng và loại trái cây tiêu thụ, trong khi những yếu tố này có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu là mẫu thuận tiện và không đại diện cho toàn bộ dân số, nên khả năng khái quát còn hạn chế.

Một điểm cần lưu ý khác là khả năng tồn tại “nguyên nhân ngược”. Những người đã có bệnh nền có thể chủ động thay đổi chế độ ăn, ví dụ chuyển sang uống nước ép hoặc sinh tố, khiến mối liên hệ quan sát được không phản ánh đúng chiều nhân quả.

Tổng thể, nghiên cứu cho thấy sinh tố và trái cây nguyên quả có liên quan đến các chỉ số sức khỏe thuận lợi hơn so với nước ép, trong khi việc tiêu thụ ít trái cây liên quan đến kết quả kém nhất. Tuy nhiên, do các hạn chế về phương pháp, chưa thể kết luận rằng sinh tố trực tiếp gây ra lợi ích sức khỏe vượt trội. Các nghiên cứu dọc với thiết kế chặt chẽ hơn là cần thiết để xác định vai trò thực sự của từng dạng tiêu thụ trái cây trong phòng ngừa bệnh và xây dựng khuyến nghị dinh dưỡng.

Thanh Long t/h