Làng Vị Hoàng: Vùng đất nuôi dưỡng nhiều nhà thơ, khoa bảng
- Trần Hưng
- •
Tên gọi làng Vị Hoàng có từ thời nhà Trần, trải qua năm tháng lịch sử, vùng đất nơi đây không chỉ xuất sinh ra tiến sĩ, Tam nguyên mà còn nuôi dưỡng tâm hồn những bậc thi văn tài năng cho đất nước.
Văn hóa lịch sử
Theo sách “An Nam chí lược”, vùng đất Dương Xá xưa kia được gọi là Tư Nông Châu, chia làm 2 làng là làng Lềnh và làng Trùm, sau này gọi là làng Vị Hoàng và Phù Long.
Làng Vị Hoàng nằm ở phía nam của đồng bằng sông Hồng. Thời nhà Trần, làng rộng lớn giáp bờ sông Nhị, tiếp giáp với khu trung tâm hành cung, thành Quân Doanh phủ Thiên Trường (tức Nam Định ngày nay). Thành Nam Định cũng được xây trên đất Vị Hoàng.
Đến thời kỳ nhà Hậu Lê thế kỷ 16, nơi đây có tòa thành bằng đất gọi là thành Vị Hoàng (thành Vị). Trong thành có 90 gian kho chứa thóc lúa cho cả vùng Sơn Nam. Kho thóc này vô cùng trọng yếu, nhất là những lúc thiên tai mất mùa, kho thóc này cung cấp lương thực cho dân chúng cả vùng Sơn Nam.
Trong làng có xóm Thạch Kiều nổi tiếng với rừng trúc và chùa Cả (Thánh Ân Tự), chùa Cuối. Đình làng cũng được xây dựng tại xóm Thạch Kiều. Đình có chuông đồng, khánh đá, phía trước có hồ bán nguyệt thả sen.
Sau này đến thời vua Tự Đức nhà Nguyễn, tên gọi Vị Hoàng phạm húy với tên cụ tổ nhà Nguyễn là chúa Nguyễn Hoàng. Vì thế Vua cho đổi tên gọi Vị Hoàng thành Vị Xuyên.
Vùng đất thi văn, khoa bảng
Vị Hoàng là nơi xuất sinh nhiều nhân tài, đặc biệt là các nhà thơ nổi tiếng như: Vũ Công Tự, Trần Tế Xương, Trần Tích Phiên (Hai Ứng), Phạm Ứng Thuần (Cả Thuần).
Thời Lê Trung Hưng, làng có Trần Mại đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1721, làm quan đến Công bộ Hữu thị lang.
Thời nhà Nguyễn, làng có Vũ Công Độ đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1832 thời vua Minh Mạng, làm Bố chính Thái Nguyên, tước Thái bộc tự Khanh.
Vũ Công Độ làm quan cho Triều đình nên con trai của ông là Vũ Công Tự được nhận vào học trường Quốc Tử Giám ở Huế. Sau đó, Vũ Công Tự ra Hà Nội giúp việc cho anh rể là Tam nguyên Trần Bích San và cha. Sau khi vua Hàm Nghi kêu gọi phong trào Cần Vương. Vũ Công Tự cùng một số văn thân yêu nước mộ quân nghĩa dũng chống Pháp.
Họ Trần
Theo gia phả của họ Trần làng Vị Hoàng, thời nhà Nguyễn có ông Trần Vi Lâm dù mắt kém nhưng vẫn chăm chỉ dạy học cho con mong thành tài. Con ông là Trần Doãn Đạt nhờ đó mà đỗ Phó bảng khoa thi năm 1862 thời vua Tự Đức, làm Án sát Hưng Hóa.
Trần Doãn Đạt quan tâm dạy dỗ con cái học hành. Con đầu của ông là Trần Bích San tham dự khoa thi năm 1864 và đỗ đầu kỳ thi Hương. Năm sau, Bích San đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình, nên được gọi là Tam nguyên Vị Xuyên.
Vua Tự Đức đã phê vào bài của ông rằng:
“Người tuổi còn trẻ mà đỗ liên Tam nguyên cũng là hiếm có. Sau này nếu có tài kinh bang tế thế là điều may mắn cho nước nhà, cũng không phụ lòng mong mỏi của trẫm. Nay ban cho người đổi tên là Trần Hy Tăng (ví như Vương Tăng đời Tống cũng đỗ Tam nguyên), để tỏ ý mong chờ. Làm bề tôi mà được như thế quả là không xấu hổ.”
Khi vinh quy, vua Tự Đức ban cho ông lá cờ thêu bốn chữ “Liên trúng Tam nguyên”.
Tin Trần Bích San trúng Tam nguyên, được Vua khen bay về làng. Dân chúng làng Vị Hoàng đến nhà ông Trần Doãn Đạt chúc mừng. Ông Đạt vui mừng nhưng cũng lo con mình đỗ cao sinh kiêu ngạo nên gửi thư cho con rằng: “Có kiến thức không khó, khó là phải hiểu biết đến nơi”, “không danh vọng không đáng lo, chỉ lo tiếng tăm phù phiếm”.
Trần Bích San làm quan trải qua các chức vụ khác nhau. Đến Khoa thi năm 1868, ông được cử làm Phó chủ khảo kỳ thi Hương ở trường thi Thừa Thiên. Lúc này vua Tự Đức không có ý muốn chống Pháp nên đã ký các Hòa ước nhượng 6 tỉnh Nam bộ cho Pháp. Khi gợi ý đề thi cho các sĩ tử, ông đã nói những lời trái với quan điểm nhượng bộ của vua Tự Đức, nên sau đó ông bị giáng chức.
Trần Bích San bị giáng chức, đến làm Tri phủ An Nhơn (Bình Định). Người dân An Nhơn sau này xem đây là điều may mắn, bởi Trần Bích San làm quan luôn lo lắng cho dân, dân xem ông đúng là vị quan phụ mẫu. Ông không chỉ giúp dân có kế mưu sinh, no ấm, mà còn lưu lại thuần phong mỹ tục, giúp dân sống chan hòa, có lễ nghĩa, giúp chuẩn mực đạo đức tinh thần người dân được nâng cao.
Người dân An Nhơn đến nay vẫn còn lưu truyền “Gia huấn ca” của Trần Bích San khuyên bảo dân chúng học theo. Nhiều nơi gọi đây là “Thơ tam khôi” của Tam nguyên Trần Bích San. Trong tập thơ này có những lời khuyên như:
Làm trai chí ở cho bền,
Nghề chi cũng phải chuyên nên một nghề.
Nửa chừng làm chẳng ra bề,
Thầy dở thợ vụng bạn chê người cười.
Lời khuyên cho phận gái trong gia đình:
Gặp đồ vật lạ của ngon,
Mua về cha mẹ gọi con thảo tình.
Chớ đi tăm tối một mình,
Dầu ngay cho lắm thời tình cũng gian.
Triều đình dù giáng chức nhưng vẫn tận dụng tài năng của Trần Bích San, nên năm 1870, ông được cử đi sang nhà Thanh.
Trước việc vua Tự Đức chỉ muốn nghị hòa mà không muốn chống Pháp, Trần Bích San làm nhiều bài thơ nhằm thức tỉnh người thời đó. Ông đề xuất lên Triều đình các cải cách về giáo dục, tuyển chọn nhân tài, xây dựng quân sự, thông thương cảng biển, mở mang công nghiệp.
Năm 1877, vua Tự Đức cử Trần Bích San dẫn đầu phái đoàn sang Pháp để nghị hòa, nhưng Trần Bích San luôn muốn chống Pháp. Nếu không đi thì cãi mệnh Vua, nếu đi phải thực hiện nghị hòa đúng như ý Triều đình. Vì phản đối việc nghị hòa của Triều đình không được, cuối cùng ông đã uống thuốc độc tự tử. Trước khi mất ông để lại bài thơ tuyệt mệnh như sau:
Tự sủy tài sơ xỉ vị cường
Tây sà kim hựu phiếm trùng dương
Cực tri sơn hải ân tình trọng
Na quản đông tây đạo lộ trường
Vạn lý Thiết thành thông dị vực
Thập niên Ngưu chử ức luân cương
Hoàng hoa tương mệnh tri hà bổ
Lại hữu gia du xuất miếu đường.
Bản dịch của Phùng Uông:
Sứ Tây nay lại vượt ba đào
Ơn trên non biển còn mang nặng
Nẻo thẳm đông tây có sá nào
Muôn dặm Thiết thành non nước lạ
Mười năm Bến Nghé đắm chìm đau
Biết mình đi sứ, làm chi được
Trông cậy triều đình có chước cao
Họ Trần còn một nhân vật nổi tiếng khác là Trần Tế Xương, từ nhỏ đã đối đáp thơ văn nhanh nhạy. Năm Tế Xương lên 10, có vị khách đến nhà chơi, thấy trước nhà có chậu hoa liền ra một câu đối cho cậu bé: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc). Tế Xương liền chỉ vào lồng chim ở hiên và đối: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối tấm tắc khen nhưng lại thở dài “đời thằng bé lại luẩn quẩn như chim nhốt trong lồng”.
Tế Xương dù tài năng nhưng nổi tiếng thời đó là “học tài thi phận” khi 3 kỳ thi liền đều bị đánh rớt. Khoa thi năm 1864, ông chỉ đỗ đến tú tài. Dù không đỗ cao nhưng Tú Xương nổi tiếng về thơ ca. Nhà thơ Xuân Diệu nói về ông như sau:
Ông Nghè ông Thám vô mây khói
Đứng lại văn chương một Tú tài.
Ở Vị Hoàng, những người đỗ không cao nhưng tài năng như Tế Xương cũng không hề ít, như Trần Tích Phiên, Phạm Ứng Thuần. Các cụ đồ trong làng cũng rất giỏi thư pháp, về âm nhạc có nhiều tài năng như Trần Khắc Tính được Vua ban cho Thất phẩm quân nhạc.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa khoa bảng















![[VIDEO] “Cửu dục” đang gặm nhấm người Trung Quốc ngày nay](https://trithucvn2.net/wp-content/uploads/2026/05/cuu-duc-gam-nham-nguoi-trung-quoc-446x295.jpg)
















