Đảng Dân chủ đã giành quyền kiểm soát cả hai viện Quốc hội Mỹ trong bầu cử giữa kỳ hôm thứ Ba (3/11). Quản lý AI được dự báo sẽ thay đổi lớn, nhưng luật AI liên bang toàn diện còn nhiều trở ngại.

Tổng thống Trump trong cuộc họp với lãnh đạo các công ty công nghệ Mỹ ngày 29/9/2026. (Ảnh: Nhà Trắng)

Kết quả này làm xáo trộn lớn bản đồ chính trị Mỹ và được dự báo sẽ thay đổi đáng kể chính sách công nghệ trên cả nước, nhất là việc quản lý ngành trí tuệ nhân tạo (AI). Đảng Dân chủ đã đưa quản lý AI vào nhóm vấn đề ưu tiên của Quốc hội khóa mới.

Dù vậy, giới phân tích cho rằng ngay cả khi Đảng Dân chủ nắm cả hai viện, một đạo luật AI liên bang toàn diện và chặt chẽ vẫn gặp nhiều lực cản. Lực cản đến từ quyền phủ quyết của tổng thống, cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ-Trung và việc đảng này có tranh thủ được các nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ hay không.

Tạp chí Forbes cho biết hãng tin AP đã xác định Đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát cả Thượng viện lẫn Hạ viện khi kết quả bầu cử lần lượt được công bố. Một số khu vực bầu cử vẫn cần thêm thời gian để kiểm phiếu và xác nhận kết quả. Quốc hội khóa mới sẽ nhậm chức ngày 3/1/2027.

Trong cơ cấu Quốc hội trước đây, chính sách về AI phần lớn nghiêng về nới lỏng quy định để Mỹ giữ sức cạnh tranh toàn cầu trong công nghệ này. Phía Đảng Dân chủ dự định tăng cường giám sát ngành AI và điều tra các hoạt động liên quan của các công ty công nghệ, tờ The Hill đưa tin. Tạp chí Time thì cho biết chương trình nghị sự của Đảng Dân chủ còn có các biện pháp liên quan đến trung tâm dữ liệu.

Tuy nhiên, chiếm đa số ghế ở Quốc hội không có nghĩa là Đảng Dân chủ có thể dễ dàng biến các đề xuất quản lý thành luật. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ phủ quyết nếu Đảng Dân chủ đưa ra những dự luật mà ông cho là “điên rồ”.

Hiến pháp Mỹ quy định Quốc hội muốn vượt qua quyền phủ quyết của tổng thống thì phải thông qua lại dự luật với đa số 2/3 ở từng viện. Như vậy, nếu không có đủ nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ, Đảng Dân chủ dù nắm cả hai viện cũng khó làm được điều này.

Từ giám sát của Quốc hội đến lập pháp toàn diện

Ông Vinh Nguyen, nghiên cứu viên cao cấp về AI tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), từng là Giám đốc phụ trách AI có trách nhiệm (chief responsible AI officer) của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA). Trong bài phân tích đăng hôm thứ Tư (4/11), ông nhận định Quốc hội mới có thể bắt đầu từ một số hướng. Các hướng ông nêu gồm giám sát việc phát triển và sử dụng vũ khí sát thương tự hành, làm rõ các bảo đảm pháp lý nhằm hạn chế dùng AI để giám sát trong nước, và xây dựng quy tắc quản lý các nhà phát triển AI lớn.

Nhưng ông Nguyen cũng cho rằng muốn xây dựng một hệ thống quản lý AI hoàn chỉnh thì vẫn cần Nhà Trắng phối hợp. Ông dự đoán các đạo luật có thể bắt đầu từ những biện pháp hẹp, chẳng hạn yêu cầu nhà phát triển AI công bố rủi ro, báo cáo các sự cố liên quan đến an ninh quốc gia hay an toàn công cộng. Sau đó, các đạo luật này mới dần mở rộng thành một khuôn khổ quản lý đầy đủ hơn, gồm các tiêu chuẩn an toàn chung cho cả Chính phủ lẫn doanh nghiệp và các biện pháp chế tài đối với nhà phát triển không đạt chuẩn.

Trong một bài phỏng vấn đăng trên trang của CFR, ông Vinh Nguyen kể mình lớn lên ở Sài Gòn, Việt Nam, rồi nhập cư đến Boston.

Trong bài phân tích sau bầu cử, công ty luật Akin Gump cũng nhận định Đảng Dân chủ nhiều khả năng sẽ thúc đẩy các đạo luật nhằm phòng ngừa những rủi ro thảm khốc mà các mô hình AI tiên phong có thể gây ra trong quá trình phát triển và triển khai.

Trước khi Quốc hội khóa mới nhậm chức, Đảng Cộng hòa vẫn có thể tận dụng kỳ họp “vịt què” để nhấn mạnh rằng quản lý liên bang quá chặt có thể gây hại cho đổi mới công nghệ của Mỹ. Đây là giai đoạn chuyển tiếp mà các nghị sĩ đương nhiệm vẫn còn tại vị.

Tạp chí Time phân tích rằng dù Đảng Dân chủ kiểm soát cả hai viện, một dự luật quản lý AI liên bang toàn diện khó được thông qua trong ngắn hạn. Đảng này có nhiều cơ hội hơn khi dùng quyền giám sát của Quốc hội: triệu tập lãnh đạo các công ty công nghệ ra điều trần, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài liệu và điều tra những rủi ro mà ngành AI có thể gây ra.

Các biện pháp mà Đảng Cộng hòa thúc đẩy trước đây nhằm hạn chế các bang tự đặt quy định quản lý AI cũng sẽ gặp lực cản chính trị lớn hơn khi Đảng Dân chủ nắm hai viện.

Ông Brendan Steinhauser thuộc Alliance for Secure AI, một nhóm ủng hộ quản lý an toàn AI, nói với tạp chí này rằng đây là cơ hội để chính quyền Trump tìm kiếm sự hợp tác của cả hai đảng.

Về triển vọng lập pháp của Quốc hội mới, các chuyên gia khác có nhận định không giống nhau.

Nhà khoa học chính trị Kneeland của Đại học Nazareth nói với tờ The National rằng sự bất mãn của công chúng đối với các công ty công nghệ lớn có thể khiến một số nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ các biện pháp quản lý do Đảng Dân chủ đề xuất.

Trả lời kênh Fox Business, ông Dallas Dolen, người phụ trách mảng công nghệ, truyền thông và viễn thông của PwC, thì cho rằng tăng cường giám sát chưa chắc giúp doanh nghiệp có một môi trường quản lý rõ ràng hơn.

Các nước quản lý AI ra sao

Liên minh châu Âu (EU) đã có luật AI toàn diện. Đạo luật Trí tuệ Nhân tạo (AI Act) của EU có hiệu lực từ tháng 8/2024, quản lý theo mức độ rủi ro. Các ứng dụng rủi ro cao, như những ứng dụng liên quan đến quyền cơ bản (nhận dạng sinh trắc học, thuật toán tuyển dụng) hay an toàn công cộng, phải đáp ứng các yêu cầu về đánh giá rủi ro, tài liệu kỹ thuật, chất lượng dữ liệu, lưu giữ hồ sơ và giám sát của con người. Các nghĩa vụ đối với mô hình AI đa mục đích được áp dụng từ tháng 8/2025.

Năm nay, EU đã lùi một phần lộ trình. Đạo luật Omnibus Kỹ thuật số (Digital Omnibus, quy định 2026/1744) có hiệu lực từ ngày 27/7/2026, dời hạn tuân thủ của các hệ thống AI “rủi ro cao” trong tuyển dụng, chấm điểm tín dụng, giáo dục, thực thi pháp luật… từ ngày 2/8/2026 sang ngày 2/12/2027. AI tích hợp trong các sản phẩm chịu quản lý như thiết bị y tế, máy móc, xe cộ được lùi hạn đến ngày 2/8/2028.

EU giải thích rằng lộ trình được điều chỉnh để các tiêu chuẩn và biện pháp hỗ trợ thực thi kịp hoàn thiện. Điều này cho thấy ngay cả nơi đã có khung pháp lý toàn diện về AI, việc đưa quy định vào thực tế vẫn phải tính đến tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực hành chính và gánh nặng tuân thủ của doanh nghiệp.

Trung Quốc thì chọn cách để các bộ ngành ban hành từng quy chế riêng. Luật An ninh mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, bổ sung các điều khoản riêng về AI. Quốc vụ viện và Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc cũng đã đưa một đạo luật AI toàn diện vào kế hoạch lập pháp năm 2026.

Hôm 10/4 năm nay, Văn phòng Thông tin Internet của ĐCSTQ (cơ quan phụ trách kiểm soát nội dung trên mạng) cùng 4 cơ quan khác ban hành quy định quản lý các dịch vụ tương tác “nhân hóa” như AI bầu bạn và nhân vật ảo. Quy định có hiệu lực từ ngày 15/7. Ngay trong ngày quy định có hiệu lực, hai nền tảng AI lớn của Trung Quốc đã ngừng dịch vụ cho phép người dùng tự tạo nhân vật AI, trang Just Security đưa tin.

Ông Kyle Chan, nhà nghiên cứu ngành công nghệ Trung Quốc tại Viện Brookings, nói trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 9 rằng việc quản lý AI của ĐCSTQ từ lâu xoay quanh ý thức hệ và kiểm soát nội dung. Ông cho biết các cơ quan an ninh quốc gia của ĐCSTQ gần đây đã liệt kê những rủi ro của AI, trong đó có khả năng AI đe dọa an ninh quốc gia và vị thế cầm quyền của ĐCSTQ. Nhưng theo ông, giới hoạch định chính sách cấp cao của ĐCSTQ không lo ngại những “rủi ro tồn vong” kiểu AI có thể khiến loài người diệt vong.

Cạnh tranh Mỹ-Trung thành tâm điểm tranh luận về quản lý

Ở Mỹ, một trong những lý do chính khiến nhiều người phản đối quản lý AI chặt chẽ là lo ngại các biện pháp này làm suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp Mỹ, tạo cơ hội cho ĐCSTQ đuổi kịp.

Ông Chris McGuire, nghiên cứu viên cao cấp của CFR, ước tính trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 7 rằng công nghệ AI của Trung Quốc đi sau Mỹ khoảng 6 đến 8 tháng. Ông cho rằng chừng nào phía Trung Quốc còn bám sát, các biện pháp quản lý có thể làm thu hẹp lợi thế cạnh tranh của Mỹ sẽ rất khó được thúc đẩy về mặt chính trị, và cũng chưa chắc là khôn ngoan.

Ông McGuire còn cảnh báo rằng nếu ĐCSTQ thấy có cơ hội đuổi kịp Mỹ, họ có thể bỏ qua vấn đề an toàn AI để đẩy nhanh phát triển. Ông đề xuất Mỹ trước hết dùng các biện pháp như kiểm soát xuất khẩu để giữ vị trí dẫn đầu về công nghệ, qua đó có thêm thời gian xây dựng một cơ chế quản lý cân bằng giữa an toàn và đổi mới.

Một số doanh nghiệp công nghệ cũng có quan điểm tương tự.

Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng 7, Chủ tịch CFR Michael Froman cho biết 25 công ty, trong đó có Nvidia, Microsoft, Meta, OpenAI và Google, từng cùng ký thư gửi Chính phủ Mỹ, phản đối việc hạn chế quá sớm các mô hình AI “trọng số mở” (open-weight). Lý do các công ty đưa ra là hạn chế quá mức có thể đẩy hoạt động đổi mới và đầu tư liên quan ra nước ngoài, và cuối cùng lại có lợi cho ĐCSTQ.

Ông David Sacks, cố vấn công nghệ của ông Trump, thì công khai phản đối việc hạn chế mạnh tay quá trình phát triển AI tiên tiến. Ông Sacks từng phụ trách các vấn đề AI và tiền điện tử của Nhà Trắng. Hồi tháng 9, khi trả lời phỏng vấn đài CBS, ông chỉ trích dự luật cấm siêu trí tuệ nhân tạo do Thượng nghị sĩ Bernie Sanders (độc lập, bang Vermont) đề xuất. Dự luật này chủ trương cấm vĩnh viễn việc phát triển siêu trí tuệ nhân tạo, và tạm dừng phát triển, triển khai các hệ thống AI tiên tiến cho tới khi cơ quan quản lý liên bang ban hành quy tắc an toàn.

Ông Sacks cho rằng những biện pháp như vậy trên thực tế có thể đóng băng hoạt động phát triển AI tiên tiến của Mỹ, trao lợi thế dẫn đầu công nghệ cho ĐCSTQ. Ông cũng cảnh báo một số công ty AI tuy công khai kêu gọi Chính phủ quản lý, nhưng có thể đang tìm cách tác động vào quá trình soạn quy tắc để hệ thống quản lý cuối cùng có lợi cho chính họ. Hiện tượng này được gọi là “thâu tóm cơ quan quản lý” (regulatory capture).

Theo ông, nếu doanh nghiệp thật sự thấy rủi ro công nghệ quá cao, họ có thể tự làm chậm tốc độ phát triển, thay vì yêu cầu Chính phủ lập ra một chế độ cấp phép có thể kìm hãm cả ngành.

Ông Stuart Russell, giáo sư khoa học máy tính tại Đại học California, Berkeley, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Quốc tế vì AI an toàn và đạo đức, có quan điểm ngược lại.

Trả lời phỏng vấn riêng của hãng tin Reuters, ông Russell nói lập luận “Mỹ tăng cường quản lý thì phía Trung Quốc được lợi” dựa trên một tiền đề sai, vì chính phía Trung Quốc cũng đang quản lý AI. Ở một số lĩnh vực, các hạn chế của Trung Quốc thậm chí còn chặt hơn cả EU, chẳng hạn chatbot phải qua kiểm tra “ảo giác” trước khi ra mắt.

Ông Russell chủ trương Chính phủ nên liên tục theo dõi các hệ thống AI và hành động khi phát hiện hệ thống vi phạm yêu cầu an toàn, thậm chí yêu cầu dừng hoạt động nếu cần.

Bất đồng giữa ông Russell và ông Kyle Chan cũng phản ánh những cách hiểu khác nhau về việc ĐCSTQ quản lý AI. Ông Russell nhấn mạnh các yêu cầu của phía Trung Quốc về kiểm tra kỹ thuật và thẩm định trước khi ra mắt ở một số lĩnh vực. Còn ông Chan cho rằng mục đích chính của ĐCSTQ khi quản lý AI vẫn là kiểm soát nội dung, giữ vững ý thức hệ và bảo đảm an ninh chế độ.

Chuyên gia muốn cân bằng giữa an toàn và đổi mới

Giữa hai thái cực quản lý chặt chẽ và buông lỏng hoàn toàn, cũng có chuyên gia đề xuất cách làm có trọng tâm hơn.

Ông Chan cho rằng chỉ dựa vào việc doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ tiêu chuẩn an toàn là chưa đủ và Chính phủ liên bang vẫn phải vào cuộc. Nhưng ông cũng chỉ ra rằng khó có chuyện Mỹ và Trung Quốc cùng làm chậm phát triển AI, vì vậy Mỹ phải tự xây dựng cơ chế an toàn hiệu quả.

Bà Elham Tabassi, Giám đốc Chương trình AI và Công nghệ mới nổi của Viện Brookings, chủ trương quản lý nên nhắm vào những rủi ro đo lường được, và cách quản lý phải điều chỉnh được theo sự phát triển của công nghệ. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu công cụ đánh giá và kiểm chứng, khiến cơ quan quản lý khó thực thi hiệu quả.

Ở chiều khác, ông Adam Kovacevich, Giám đốc điều hành nhóm ngành công nghệ Chamber of Progress, cho rằng không thể chỉ dựa vào kết quả bầu cử để kết luận cử tri ủng hộ quản lý AI chặt chẽ hơn. Ông nhận định kết quả lần này chủ yếu phản ánh mối quan tâm của cử tri về kinh tế, không có nghĩa là họ muốn Chính phủ chèn ép đổi mới công nghệ.

Vì vậy, thách thức tiếp theo của Đảng Dân chủ không chỉ là đưa ra được dự luật quản lý AI, mà còn là tạo được đồng thuận giữa hai đảng. Đảng này còn phải chứng minh các biện pháp quản lý vừa giảm được rủi ro, vừa không làm suy yếu sức cạnh tranh của ngành công nghệ Mỹ một cách không cần thiết.

Bối cảnh: Tranh cãi quanh dự luật cấm siêu trí tuệ nhân tạo

Dự luật cấm siêu trí tuệ nhân tạo do Thượng nghị sĩ Sanders và Hạ nghị sĩ Greg Casar (Đảng Dân chủ, bang Texas) đề xuất được đài NBC News mô tả là một trong những đề xuất quyết liệt nhất trong loạt dự luật về AI tại Quốc hội.

Dữ liệu dự luật do Văn phòng Xuất bản Chính phủ Mỹ (GPO) công bố cho thấy bản của Thượng viện, S. 5493, được đệ trình ngày 23/9/2026 và chuyển đến Ủy ban Thương mại, Khoa học và Giao thông Thượng viện xem xét. Bản của Hạ viện, H.R. 10538, được đệ trình ngày 24/9 và chuyển đến Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ Hạ viện. Cả hai đều chưa trở thành luật.

Các biện pháp chính mà dự luật đề xuất gồm cấm vĩnh viễn việc phát triển, triển khai, sở hữu hay chuyển giao “siêu trí tuệ nhân tạo”, và lập “Bộ Trí tuệ Nhân tạo” cấp nội các để xây dựng và thực thi các quy tắc an toàn AI.

Dự luật định nghĩa “siêu trí tuệ nhân tạo” là hệ thống AI vượt năng lực nhận thức của con người trong phần lớn lĩnh vực hay nhiệm vụ, hoặc đủ khả năng lên kế hoạch và thực hiện hành động hủy diệt loài người hay tước đoạt quyền của con người.

Dự luật còn xếp các hệ thống được huấn luyện với khối lượng tính toán từ 10²⁵ phép tính số nguyên hoặc dấu phẩy động trở lên vào nhóm “hệ thống trí tuệ nhân tạo tiên tiến”. Cho tới khi bộ mới được thành lập xong và ban hành quy tắc an toàn, các hệ thống này phải tạm dừng phát triển, còn hệ thống chưa phát hành thì không được triển khai. Dự luật cũng yêu cầu hệ thống AI tiên tiến phải được cơ quan quản lý phê duyệt trước khi phát hành.

Ngoài ra, dự luật đề xuất cấm các hệ thống AI mang những đặc điểm có thể dẫn tới siêu trí tuệ, và trao cho cơ quan chủ quản quyền cách ly, dừng hoạt động những hệ thống bị xác định là có các đặc điểm nguy hiểm đó.

Những người ủng hộ cho rằng AI tiên tiến có thể mang lại những rủi ro an toàn khó kiểm soát, nên cần có biện pháp bảo vệ bắt buộc trước khi năng lực công nghệ tiếp tục tăng.

Những người phản đối thì lo rằng định nghĩa của dự luật về “siêu trí tuệ nhân tạo” và các đặc điểm dẫn tới nó quá rộng. Định nghĩa như vậy có thể ảnh hưởng đến rất nhiều hoạt động nghiên cứu, phát triển AI tiên tiến thông thường, thậm chí gây tranh cãi về pháp lý và hiến pháp. Một số người trong ngành cũng cho rằng ngưỡng mà dự luật đặt ra có thể đã bị công nghệ hiện nay chạm tới, nên trên thực tế, dự luật có thể khiến hoạt động phát triển AI tiên tiến gần như phải dừng hoàn toàn.

Dự luật này cho thấy điểm bất đồng cốt lõi trong chính sách AI của Mỹ: Chính phủ nên hạn chế đến mức nào một công nghệ mà con người chưa hiểu hết, và làm sao vừa phòng ngừa rủi ro lớn vừa không bóp nghẹt đổi mới.

AI cũng là vấn đề trong bầu cử giữa kỳ

AI và trung tâm dữ liệu cũng trở thành một trong những vấn đề chính trị của mùa bầu cử giữa kỳ năm 2026.

Kết quả thăm dò cử tri tại điểm bỏ phiếu của NBC, được tạp chí Time nêu lại, cho thấy 56% cử tri được hỏi coi AI và trung tâm dữ liệu là một trong những yếu tố then chốt hoặc chủ yếu khi họ bỏ phiếu.

Trang tin công nghệ TNW, dựa trên dữ liệu của trang theo dõi Tech Influence Watch, cho biết các siêu ủy ban hành động chính trị (super PAC) liên quan đến AI đã chi tổng cộng 79 triệu USD trong mùa bầu cử này cho các cuộc đua giành 68 ghế Quốc hội.

Trong số đó, mạng lưới chính trị “Leading the Future” (Dẫn dắt Tương lai), vốn chủ trương quản lý AI nới lỏng hơn, khi mới thành lập có khoảng 100 triệu USD, sau bầu cử còn hơn 20 triệu USD.

Những khoản chi này cho thấy quản lý AI không còn chỉ là vấn đề chính sách của ngành công nghệ, mà đang dần trở thành vấn đề chính trị gắn với lợi ích doanh nghiệp, sức cạnh tranh quốc gia, an toàn công cộng và cách nhìn của cử tri.

Khi Đảng Dân chủ nắm cả hai viện, các cuộc điều tra và thảo luận lập pháp về AI được dự báo sẽ sôi động hơn. Nhưng muốn xây dựng một hệ thống quản lý AI liên bang toàn diện, đảng này vẫn phải đối mặt với nhiều ràng buộc từ Nhà Trắng, Đảng Cộng hòa và ngành công nghệ. Chính sách AI của Mỹ thời gian tới sẽ phụ thuộc vào việc Đảng Dân chủ có tìm được điểm cân bằng giữa an toàn và đổi mới, đủ để giành sự ủng hộ của cả hai đảng hay không.