Chân dung vị quan Tổng đốc đầu tiên của Hà Nội
- Trần Hưng
- •
Năm 1831, vua Minh Mạng cho thành lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hoà và Lý Nhân. Đặng Văn Hoà được cử làm Tổng đốc đầu tiên của Hà Nội.
Dòng dõi thi thư
Đặng Văn Hòa sinh năm 1791 ở quê ngoại là làng Thanh Lương (nay thuộc Hương Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Gia đình ông có truyền thống thi thư, cha ông là Trung phụng Đại phu Đặng Quang Tuấn.
Có cha là thầy dạy học nên từ nhỏ Đặng Văn Hòa đã được kèm cặp dạy dỗ theo kinh điển của Nho gia.
Năm 1813, Triều đình nhà Nguyễn tổ chức khoa thi, Đặng Văn Hòa tham gia thi Hương ở Huế và đỗ Hương cống.
Thi đỗ, Đặng Văn Hòa được chọn vào học ở trường Quốc Tử Giám, nhưng sau đó ông không dự thi nữa.
Tổng đốc đầu tiên của Hà Nội
Năm 1819, Đặng Văn Hòa được bổ nhiệm làm Tri huyện Hà Đông, sau đó giữ các chức vụ khác nhau.
Nhà Nguyễn định đô ở Phú Xuân (Huế), miền bắc được gọi là Bắc Thành chia làm 11 trấn. Thăng Long được đổi tên là Bắc Thành và được chọn làm lỵ sở. Năm 1928, Đặng Văn Hòa nhậm chức Tham tri Binh tào lãnh Hộ tào tại Bắc Thành, quyền Tổng trấn Bắc Thành.
Trông coi trấn Bắc Thành, ông xem việc sổ sách quân dân rất rõ ràng, giúp nơi đây ổn định. Nghiêm cấm các lái buôn nhà Thanh mang thuốc phiện sang bán, ra chính sách thuế với lái buôn của nhà Thanh rất hợp lý, lại ngăn chặn các lái buôn nhà Thanh mang tiền giả sang nước ta mua bán.
Thời điểm này có những cuộc ngoại giao tranh cãi về chủ quyền đất đai vùng biên giới giữa Đại Nam và nhà Thanh, quân Thanh cũng vì thế mà tràn qua biên giới trái phép. Năm 1831, Đặng Văn Hòa đưa quân đến Lai Châu đánh quân Thanh chiếm lại đồn Phong Thổ.
Vua Minh Mạng cho bỏ trấn Bắc Thành, đặt tên cho các tỉnh, trong đó tỉnh Hà Nội bao gồm 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hoà và Lý Nhân. Thành Thăng Long tức Bắc Thành được đổi tên theo tỉnh, gọi là thành Hà Nội.
Đặng Văn Hòa được bổ nhiệm làm Tổng đốc Hà Nội, như vậy ông là Tổng đốc đầu tiên của Hà Nội.
Năm 1935, ông vẫn giữ chức Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình, kiêm thêm Hữu đô ngự sử Viện đô sát, được thăng Thái tử Thiếu bảo, hàm Thượng thư Binh bộ.
Đặng Văn Hòa thực hiện sửa chữa các công trình Hà Nội như Văn Miếu, chùa Diên Hựu. Ông cũng cho vẽ bản đồ, quy hoạch đường xá, nhà cửa thông thoáng dễ tìm kiếm.
Ông tận dụng đất đai để làm ruộng, mỗi khi đi đến nơi có đất trống ông đều dừng lại hỏi địa phương sao đất này bỏ hoang, khuyến khích dân chúng tận dụng hết đất đai.
Khi Triều đình bỏ trấn Bắc Thành và thành lập các tỉnh, chức Đê chính (người phụ trách đê điều) cũng bị bỏ. Nhưng Đặng Văn Hòa quan tâm đê điều, giám sát các đoạn đê, nếu có sạt lở sẽ cho tu bổ. Ông cho làm cột thủy chí theo dõi mực nước lên xuống nhằm có biện pháp đối phó khi nước lũ lên cao.
Sau 5 năm làm Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình, Đặng Văn Hòa được điều về Kinh thành làm Thượng thư Công bộ, kiêm phụ trách Viện Hàn lâm, tham gia Viện Cơ mật.
Năm 1840, ông giữ chức Thự Tổng đốc rồi Tổng đốc Bình – Phú (Bình Định – Phú Yên), xử lý tốt nạn quan lại nhũng nhiễu chiếm ruộng đất của dân. Sau đó ông giữ một số vị trí khác nhau ở các địa phương.
Năm 1846, ông lại được cử ra bắc làm Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình lần thứ hai.
Năm 1850, ông được gọi đến Kinh thành giao cho các trọng trách khác nhau.
Tưởng nhớ
Đặng Văn Hòa mất vào năm 1856, bài vị của ông được đưa đến thờ ở đền Hiền Lương, là nơi thờ các bậc công thần của nhà Nguyễn. Vua Tự Đức phong ông là Văn minh điện Đại học sĩ và tặng thưởng Kim khánh khắc bốn chữ “Cựu đức thuần thành”.
Vua Minh Mạng khen ông rằng: “Tài cao đức trọng, giỏi chính sự, khéo khuyến khích hướng dẫn nhân dân, khiến nhân dân yên vui làm ăn”.
Làng Thanh Lương quê ông đã tạc tượng Đặng Văn Hòa để thờ trong ngôi chùa của làng.
Đặng Văn Hòa làm quan trải qua 4 đời Vua là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ngoài 2 lần làm làm Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình, ông cũng giữ chức Tổng đốc nhiều địa phương khác, làm Thượng thư đứng đầu các bộ, coi việc chủ biên các bộ sách lớn như “Nam thổ anh hoa lục”, “Thiệu Trị văn quy”, “Đại Nam sự lệ hội điển”…
Ông để lại nhiều bài thơ thể hiện cốt cách và tấm lòng đối với dân chúng như bài “Mong được mùa” có đoạn sau (dịch nghĩa):
Lo cho dân lòng như lửa đốt
Canh khuya suy nghĩ vương vấn, khó yên giấc
Mùa mất thì thương xóm làng đau khổ.
Trần Hưng
Xem thêm:
- Địa danh và tên gọi Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử
- Vị quan đánh bại thổ phỉ nhà Thanh, giữ yên biên giới phía bắc
Mời xem video:
Từ khóa quan lại thời xưa Hà Nội nhà Nguyễn































