Vì có công giúp dân nghèo an cư lạc nghiệp, lại tu sửa chùa chiền phổ truyền Phật Pháp, nên dân chúng biết ơn gọi bà là bà chúa Mụa.

Trông coi việc học tập trong Phủ chúa

Thời Lê Trung Hưng có một gia đình trong gia tộc họ Trần ở làng Mụa, tổng Thiên Thi, phủ Khoái Châu (nay thuộc thuộc thôn Cộng Vũ, xã Vũ Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên) sinh hạ được 8 người con. Trong đó 2 người con trai là Trần Bộ Phúc và Trần Trực Phúc trở thành Quận công của Triều đình. Người con gái Trần Thị Cư sinh năm 1580 nổi tiếng xinh đẹp với giọng hát như tiếng suối reo.

Một lần chúa Trịnh Tráng đi qua vùng này thấy Trần Thị Cư xinh đẹp liền đưa về cung làm đệ nhất cung tần.

(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)

Trần Thị Cư trông coi việc học tập của các cung tần mỹ nữ trong Phủ Chúa, lại đối nhân xử thế giúp tạo ra sự gần gũi giữa Phủ Chúa và vua Lê vốn có rạn nứt từ trước. Cảm kích vì điều này, Chúa đã cho đổi họ bà sang họ Chúa, gọi là Trịnh Thị Ngọc Am.

Từ đó mỗi khi có việc gì về an dân trị quốc, Chúa đều bàn với Ngọc Am, nhất là quan hệ với vua Lê.

Ở trong Phủ Chúa, hàng năm Ngọc Am đều về thăm quê nhà, ban lộc cho dân nghèo, lại bỏ tiền sửa lại đình chùa.

Giúp dân an cư lạc nghiệp

Ngọc Am sinh hạ được người con gái đặt tên là Trịnh Thị Minh. Bà và chúa Trịnh Tráng đều rất yêu quý con gái. Chúa ban cho Quận chúa 4 chiếc đĩa vàng và 1 chiếc đĩa bạc. Tuy nhiên Quận chúa Trịnh Thị Minh không may mất sớm khiến Ngọc Am rất đau lòng, cuối cùng quyết định xin Chúa cho về tu ở chùa làng.

Chúa cho đào nhánh từ sông Cửu An chạy qua làng Mụa để vận chuyển nguyên liệu xây dựng đền chùa và tháp cửu phẩm cho bà Ngọc Am làm nơi tu hành. Công việc phải 30 năm mới hoàn thành.

Tại quê nhà, bà Ngọc Am giúp dân khai khẩn ruộng đất, lại bỏ tiền giúp dân khai thủy dẫn nước nhập điền, cưu mang cứu đói rất nhiều dân nghèo. Từ đó đời sống dân chúng ổn định no ấm, ai cũng biết ơn công đức của bà.

Bà lại đưa Phật Pháp phổ truyền cho dân chúng, bỏ tiền tu sửa chùa chiền quanh vùng, giúp dân chúng có nơi sinh hoạt tín ngưỡng.

Thấy nhiều người ca ngợi công đức của bà, Chúa liền cho thợ đến xây tháp và tạc tượng bà ngay từ khi còn sống, được gọi là “sinh từ”.

Tưởng nhớ

Ngày mùng 5 tháng giếng năm 1648, bà Ngọc Am mất trong sự tiếc thương của dân chúng. Vì bà sinh ở làng Mụa nên người dân gọi bà là bà Chúa Mụa. Hàng năm vào ngày giỗ bà, dân chúng đều làm lễ tưởng niệm tại đền bà Chúa Mụa.

Đền bà Chúa Mụa được xây trên 2 cồn đất là cồn Con Voi và cồn Nghiên Bút, quay về hướng sông Cửu An. Thời nhà Nguyễn, dân chúng có 4 lần tu sửa đền lớn, theo kết cấu hình chữ nhị.

Sau này chiến tranh, đền bà Chúa Mụa bị tàn phá, ngôi tháp rất đẹp bị tháo dỡ. Dân chúng sau đó đã cố gắng tu sửa lại để mỗi năm đều tổ chức giỗ bà tại đền. Các lần tu sửa lớn là các năm 1942,1970, 1971, 1999, 2009, 2010.

Năm 1993, dân chúng tình cờ đào được ở cầu Ngàng 4 đĩa vàng và 1 đĩa bạc của Chúa Trịnh Tráng ban thuởng cho con gái, ở đáy đĩa có chữ: “Thuỵ Minh công chúa kim phụ lai bát tinh công chúa”

Hiện nay đền vẫn giữ kết cấu kiến trúc chữ Nhị gồm 3 gian Đại Bái và 3 gian Hậu Cung. Đền còn lưu giữ những hiện vật quý giá như tấm bia dựng năm 1634 ghi chép lại tiểu sử bà chúa Mụa; tấm bia dựng năm 1650 ghi lại công lao bà Chúa Mụa đối với làng; tòa Đại Bái có bức đại tự khắc 3 chữ “Uy linh từ”. Ngoài ra đền còn có rất nhiều hiện vật có giá trị khác.

Năm 1995, đền bà Chúa Mụa được công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Ngoài đền bà Chúa Mụa, còn có nhiều nơi khác thờ bà Ngọc Am như chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, chùa Giao Quang Tự ở làng Xuân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội, v.v…

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: