Thời kỳ Hồng Đức thịnh trị, Triều đình chú trọng khoa bảng, nhân tài xuất hiện lớp lớp nhưng số người đỗ đại khoa thì luôn hữu hạn mà thôi. Họ Phạm làng Hoàng Xá, tổng Thanh Khê, huyện Đại An, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Cường, Ninh Bình) tự hào bởi có 2 anh em đều đỗ đạt, trở thành trụ cột cho Triều đình.

Họ Phạm là một trong những họ đầu tiên đến khai phá vùng đất ở cửa biển Đại An. Tổ tiên họ Phạm đặt tên cho vùng đất mới này là Hoàng Xá. Mặc dù là làng mới lập, nhưng họ Phạm có hai anh em đỗ đạt 2 khoa thi liên tiếp vào thời vua Lê Thánh Tông, trở thành niềm tự hào của người dân cửa biển Đại An.

Đại tướng Đổng quân Phạm Bảo

Người họ Phạm đỗ đạt đầu tiên là Phạm Bảo, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa thi năm 1487. Sau khi thi đỗ, ông nhậm chức Phó đô ngự sử tại Ngự sử đài, là cơ quan chuyên can gián Vua và giám sát các quan lại khác.

Bản rập văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi 1487: Phạm Bảo đỗ Hoàng giáp. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Phạm Bảo không chỉ hay chữ, mà còn giỏi võ nghệ, vì thế mà vua Lê Thánh Tông chuyển ông sang làm quan võ, giữ chức Chưởng quản Nội thị, sau đó thăng lên Đại tướng Đổng quân.

Đại tướng Đổng quân Phạm Bảo nhiều lần cầm quân đánh dẹp Ai Lao, giữ yên vùng biên giới phía tây. Ông lại đưa quân dẹp yên các cuộc nổi loạn ở Hưng Hóa, giữ yên miền Thượng du. Ông được Vua phong là Võ huân tướng quân Tả hiệu điểm, giữ chức Trấn thủ Nghệ An.

Năm 1501, Phạm Bảo hộ giá vua Lê Hiển Tông đi đánh Bồn Man, bị bệnh và mất trên đường hành quân. Vua thương tiếc phong hàm Thiếu úy, ban thụy hiệu Vũ Thành.

Phạm Đạo Phú: Ngôi sao Dực trong nhóm Tao Đàn

Phạm Bảo có người anh họ là Phạm Đạo Phú, nổi tiếng có khiếu văn chương từ nhỏ. Khoa thi năm 1490, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đỗ sau em mình là Phạm Bảo một khoa thi.

Sau khi cả hai anh em đều thi đỗ, họ Phạm quyết định đổi tên làng Hoàng Xá thành làng Phạm Xá.

Năm 1491, vua Lê Thánh Tông cùng các quan đại thần đến thăm Lam Kinh, trong đó có Phạm Đạo Phú. Chuyến đi này nhiều người đều làm thơ và được tập hợp lại thành một cuốn, trong đó Phạm Đạo Phú có 6 bài.

Năm 1495, Phạm Đạo Phú được phong làm Hàn lâm viện Hiệu kiểm (sau này gọi là Hàn lâm viện Kiểm thảo), chuyên phụ trách việc kiểm thảo, biên tập các văn thư, chiếu chế của triều đình. Việc này không chỉ đòi hỏi phải có văn phong mà còn phải có học vấn uyên thâm. Sau đó ông được thăng làm Hình bộ tả Thị lang.

Cũng năm 1495, vua Lê Tánh Tông cho thành lập hội Tao Đàn nhị thập bát tú, tập hợp 28 người giỏi văn thơ ứng với 28 vì sao trên trời, trong đó có Phạm Đạo Phú ứng với sao Dực.

Hội Tao Đàn có tác phẩm trung tâm là tập thơ “Quỳnh Uyển thi ca”, trong đó Phạm Đạo Phú có 9 bài thơ. Ngoài ra ông còn có bài thơ nổi tiếng khắc trên bia “Quang Thục Thái hoàng Thái hậu” tại Lam Kinh, bài thơ này có câu:

Xuất thổ quần sinh mộng ủ hú
Bất thăng cảm đức lộ triêm cân

Nghĩa là:

Cõi đất muôn loài ơn ấp ủ
Xót thương mến đức lệ trào khăn

Bảo vật quốc gia “Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi” (Bia Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) có khắc thơ của Phạm Đạo Phú. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Phạm Đạo Phú cũng có nhiều bài thơ trong các tuyển tập thơ lớn như “Lê triều thi tập”, “Toàn Việt thi lục”. Ông đã sống qua giai đoạn Hồng Đức thịnh trị bậc nhất trong lịch sử, được ông mô tả qua bài thơ “Phụng hoạ ngự chế: Bái yết Sơn lăng cảm thành” trong đó có đoạn:

Đa hạnh tư thần phùng thánh đại
Nguy nguy hiếu trị nhật trung thiên

Bản dịch:

Vua sáng tôi hiền may mắn gặp
Xây nền hiếu trị vững muôn đời

Phạm Đạo Phú làm quan trải qua 7 đời Vua: Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng. Từ đỉnh cao hưng thịnh nhất là thời vua Lê Thánh Tông đến khi nhà Lê Sơ diệt vong dưới thời Lê Cung Hoàng, dù hoàn cảnh nào ông cũng giữ được thanh danh của mình.

Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông treo ấn từ quan về quê dạy học. Nhà Mạc sau đó nhiều lần mời ông ra làm quan nhưng ông đều từ chối.

Phạm Đạo Phú về quê dạy học, đồng thời chiêu binh với ý định khôi phục nhà Lê. Việc không thành, ông phải cho con cháu đổi hết sang họ Ngô để tránh bị diệt cả tộc. Phải đến gần đây con cháu của ông mới lấy lại họ Phạm.

Sau này khi nhà Lê trung hưng, ông được truy tặng hàm Tham tri, phong làm Trung ý Trung đẳng thần, cho lập đền thờ làm phúc thần.

*

Cả 2 anh em Phạm Đạo Phú và Phạm Bảo đều có công lớn khai phá đất đai lập nên làng Hưng Thịnh. Đến năm 1854 thời nhà Nguyễn, dân làng Hưng Thịnh vẫn nhớ ơn 2 anh em, lấy hoa lợi từ 20 mẫu ruộng của làng cùng 3.000 quan tiền xây dựng và hợp nhất đền thờ cả hai anh em lại. Đền thờ có bài vị ghi: “An dân trấn quốc hiển sĩ binh thần tuấn lương Đại vương”.

Từ đường họ Phạm làng Phạm Xá có bức hoành phi “Văn minh tổ”, cùng đình Ông Nghè thờ hai anh em với các câu đối của các vị khoa bảng sau này ca ngợi hai anh em làm rạng danh cho vùng đất nơi cửa biển Đại An.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: