“Đình Hội lưỡng nguyên” Nguyễn Cửu Trường
- Trần Hưng
- •
Nguyễn Cửu Trường đỗ đầu cả thi Hội lẫn thi Đình, làm quan chăm lo đời sống người dân, góp phần vào danh tiếng “Nhất môn trung nghĩa” của dòng họ Nguyễn Cửu.
Dòng họ Nguyễn Cửu vốn có gốc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, có họ xa với chúa Nguyễn, nhiều đời có công với chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Nguyễn sau này.
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, dòng họ Nguyễn Cửu có Nguyễn Cửu Kiều nhận thấy chúa Trịnh không theo đạo vua tôi, lấn át vua Lê, nên muốn vào nam theo chúa Nguyễn.
Bấy giờ Công nữ Ngọc Tú biết được ý định của Cửu Kiều. Bà là con gái của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, chị của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, được gả cho chúa Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài, trở thành Trịnh phi Ngọc Tú.
Năm 1623, Trịnh phi Ngọc Tú bí mật đưa thư và ấn báu cho Cửu Kiều, bảo ông vào nam giúp chúa Sãi. Cửu Kiều giả làm người đi chọi gà để vào Đàng Trong.
Nguyễn Cửu Kiều vào nam được trọng dụng và lập nhiều công lớn. Từ đó dòng họ Nguyễn Cửu ở Đàng Trong đời đời được Chúa gả Công nữ cho, trở thành dòng họ trụ cột của Đàng Trong.
Đến thời nhà Nguyễn, dòng họ Nguyễn Cửu vẫn tiếp tục được trọng dụng. Thời điểm này dòng họ có Nguyễn Cửu Trường sinh năm 1805. Ông sinh dưới thời vua Gia Long, trưởng thành vào thời vua Minh Mạng, cũng là thời mạnh mạnh nhất của Nho học nhà Nguyễn.
Sinh trưởng trong gia đình dòng dõi quý tộc, Nguyễn Cửu Trường được ăn học bài bản. Khoa thi năm 1831, ông đỗ kỳ thi Hương, đến năm 1836 được chọn vào học ở trường Quốc Tử Giám.
Khoa thi năm 1838, Nguyễn Cửu Trường đỗ đầu kỳ thi Hội, vào đến thi Đình ông lại đỗ đầu tức Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (khoa thi này không lấy Tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Vì đỗ đầu cả kỳ thi Hội lẫn thi Đình nên ông được Triều đình ban tặng danh hiệu “Đình Hội lưỡng nguyên”.
Thi đỗ, Nguyễn Cửu Trường được vào làm việc ở Hàn lâm viện, chuyên soạn thảo những văn bản quan trọng cho Triều đình.
Vệc soạn thảo các văn bản giúp Nguyễn Cửu Trường phát huy được khả năng văn chương của mình, đồng thời hiểu được cơ chế vận hành của Triều đình, giúp ông sau đó đảm nhận các chức vụ khác nhau. Khi đảm nhận chức Bố chánh sứ Hà Nội, phụ trách kinh tế của một khu vực rộng lớn, có vị trí đặc biệt quan trọng trong cả nước, ông có nhiều bản tấu thiết thực nhằm đề xuất các chính sách bảo vệ quyền lợi binh lính, thợ thuyền, giảm gánh nặng lao dịch.
Dù giữ nhiều chức vụ khác nhau nhưng các ghi chép cho thấy ông không có điều tiếng gì như tham nhũng hay lạm quyền. Ngược lại ông có phong thái của một Nho sĩ hành đạo, xem việc làm quan là cơ hội để giúp dân.
Ông được Triều đình tin tưởng giao cho duyệt và đọc quyển tại kỳ thi Đình các năm 1841, 1842 và 1851, nhằm đảm bảo sự nghiêm cẩn và công bằng.
Ông tham gia soạn thảo và biên tập các công trình quan trọng như Ngọc điệp, Thiệu Trị văn quy, các tập thơ và sách ngự chế của vua Thiệu Trị, v.v… góp phần hệ thống hóa tư tưởng, văn chương và giáo dục của triều đình.
Đồng thời ông cũng tham gia biên tập và hiệu đính “Nguyễn Cửu tộc phổ” của dòng họ mình.
Cuối năm 1847, vua Tự Đức lên ngôi. Ngay năm 1848 Nguyễn Cửu Trường đã có bản tấu lên Vua làm lợi cho cả quân và dân:
Hộ bộ Thị lang sung làm việc ở Nội các là Nguyễn Cửu Trường dâng thư dán kín nói 3 việc:
– Xin chuẩn cho binh đinh được tiền công phí.
– Nói: Từ trước tới nay, khi có công tác, thì vật liệu vặt đều lấy ở binh. Nay xin phàm trù tính vật liệu công tác và nhật kỳ, cần được rộng lớn; còn như các vật mảnh tre cây gỗ, dự trước bắt lính đi lượm lấy, hay do ty có trách nhiệm đặt mua theo thị giá để dùng, không được chuyên trách cả cho lính. Lại xin cho bộ xét kỹ, phàm lính và thợ tạp ngạch ở Kinh chiểu theo công việc nhiều ít mà cấp cho tiền tháng, để được trông nhờ.
– Xin miễn cho dân xã đi mua hàng theo thị giá.
– Nói: Từ trước tới nay, mỗi khi có mua hàng theo thị giá thì căn cứ vào các hàng buôn, mà xét ra trong ngạch sổ thì không có tên người nào làm hàng buôn hết. Nay xin lượng đặt các hộ làm nghề nghiệp, hộ buôn bán được trừ hết cả ra binh tạp dịch, chỉ bắt hằng năm nộp thuế làm nghề nghiệp, cung nạp thực sắc mà thôi. Còn về khoản mua hàng theo thị giá, như việc phái đi ngoại dương, đã vâng Chỉ rõ ràng hãy tạm đình chỉ, thời phàm những vật hạng phải mua ở các nước phương Đông hay phương Tây có thể đình việc đi mua. Còn như gỗ, đá, than, củi các loại vật thường dùng, đều không thể đình được, xin mua ở hàng buôn hay trên mặt chợ, trả tiền, trả ngay trước mặt. Nếu phải dùng đến số nhiều, thì chiểu theo lệ cũ năm Gia Long, chia bổ vào mẫu ruộng, rồi trừ tiền thập vật đi, không được chia bổ cho dân xã như trước. Bộ Hộ xét lại cho khấu trừ đi, nhưng phải lấy giá chợ làm chuẩn đích, không nên nhất khái câu nệ theo giá cũ.
– Xin tăng thêm giá thuê thuyền vận tải.
– Nói: Sở Bắc Tào hằng năm phái ra thuyền Hải vận chuyên chở 2 lần, thường có so le. Kể ra thuyền chở đi biển nhiều, thì thuyền không bền, lính ít tập thì sai phái sao hay được việc. Nay xin từ Thừa Thiên trở ra Bắc đến Thanh Hoá, phàm các dân ven biển mà có thuyền buôn, đều chuẩn cho vào ngạch thuyền vận tải ở miền Bắc, trừ miễn ra lính tạp dịch cho người chủ thuyền ấy và lượng cho những dân tráng làm chân chèo, cầm lái được tuân theo lệ thuê mướn trong khoảng năm Gia Long, chiểu theo số hàng chở mà cấp phát, trừ miễn tiền thuế, thì thuyền dân càng ngày càng nhiều, thuyền công càng ngày càng bớt đi, mà dân và binh đều lợi cả đôi.
Lại từ Quảng Bình đến cửa biển Thuận An, một bãi cát dài trông ngút ngàn trăm mối nguy hiểm. Nay xin ở chỗ cửa cảng trên sông Thuận Trạch (thuộc Quảng Bình) đắp đập đặt cửa cống, chứa nước cho chảy về phía đông, ở khoảng giữa có vài dặm bị khô cạn, nên cho khơi đào qua loa thì cảng ấy có thể đi thuyền thông đồng được.
Lại ở hạt ấy nên đặt thêm kho tàng, phàm thuyền vận tải hoặc nhân gió nước không tiện, cho chở vào cửa biển Nhật Lệ, tạm chở ở kho, đợi bắt thuyền đường sông kíp chở về Kinh cũng chưa muộn gì.
(Đại Nam thực lục, tập 7)
Sau đó Nguyễn Cửu Trường được sung làm Kinh Diên nhật giảng quan, giảng giải kinh truyện hàng ngày cho vua, hoàng tộc và các quan ở điện Kinh Diên.
Vào cuối đời làm quan của mình, Nguyễn Cửu Trường được cử làm Tuần phủ Biên Hòa, là nơi có rất nhiều biến động. Ông thể hiện khả năng của mình khi quản lý tốt vùng đất này.
Những công lao của Nguyễn Cửu Trường và dòng họ Nguyễn Cửu được Triều đình ghi nhận. Năm 1849, vua Tự Đức sắc phong cho dòng họ Nguyễn Cửu bức hoành phi “Nhất môn trung nghĩa” để ghi nhận tấm lòng trung nghĩa và công lao của dòng họ này.
Nguyễn Cửu Trường đang giữ chức tại Biên Hòa thì bị mắc bệnh nặng, vua Tự Đức cấp tiền cho ông về quê dưỡng bệnh. Tuy nhiên do bệnh nặng ông đã mất vào năm 1853 trong sự thương tiếc của Triều đình và dân chúng.
Trần Hưng
Xem thêm:
- Dòng họ Nguyễn Cửu: Danh gia vọng tộc của triều Nguyễn (P1)
- Làng Vạc với dòng họ Nhữ nổi danh trong lịch sử
Mời xem video:
Từ khóa nhà Nguyễn khoa bảng dòng họ Việt Nam

































