Dưới thời thuộc Pháp, dân chúng khốn khổ dưới sự cai trị hà khắc của người Pháp, Triều đình hàng Pháp không thể giúp gì, nhưng vẫn còn những vị quan bất tuân lệnh người Pháp, hết lòng che chở cho dân chúng.

(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)

Vượt khó khăn chăm chỉ học hành

Theo gia phả họ Hoàng và văn bia “Hoàng tộc tự bi ký” thì họ Hoàng có nhiều người đỗ đạt vào thời nhà Lê. Sau này có cụ Hoàng Khắc Quýnh đến định cư ở làng Hoàng Xá, tổng Quỳ Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay thuộc xã Diễn Cát, huyện Diễn Châu) hình thành một chi họ Hoàng nơi đây.

Đến thời vua Tự Đức, họ Hoàng làng Hoàng Xá có Hoàng Ngọc Quý vốn thông minh, trọng đạo, nhưng gia cảnh nghèo khó khiến khoa bảng lận đận, ông chọn nghề dạy học kiếm sống.

Hoàng Ngọc Quý kết hôn cùng với bà Lê Thị Tường, hai vợ chồng sinh được bốn người con. Năm 1875 thì bà Lê Thị Tường mất, ông Quý thường đưa người con trai thứ ba là Hoàng Kiêm cùng con gái út đến chỗ mình dạy học để tiện chăm sóc.

Thường đến lớp học của cha khi mới lên 5 tuổi nên Hoàng Kiêm bắt đầu biết chữ. Dần dần lớn lên, Hoàng Kiêm đã có thể tự mình vượt đường xa đến trường bất kể mưa nắng, hàng ngày chăm chỉ học hành.

Giai thoại làng Hoàng Xá lưu truyền rằng Hoàng Kiêm mỗi bận đến trường phải đi qua sông Đò Đạu, nhưng vì nhà quá nghèo khó nên không có tiền qua đò ngày 2 lần đi về, ông phải vấn áo quần lên đầu lội qua sông.

Nhờ gặp thầy hay mà đỗ đạt

Sau này có cử nhân Nguyễn Thức Tự người làng Đông Chữ, huyện Chân Phúc (sau thuộc Nghi Lộc, Nghệ An) mở trường Đông Khê. Nguyễn Thức Tự nổi tiếng là người đức độ. Lúc này Hoàng Kiêm đã trưởng thành và tìm đến theo học với thầy Nguyễn Thức Tự.

Theo ghi chép từ lịch sử thì Nguyễn Thức Tự đã dạy dỗ hơn 400 học trò, nhiều người đỗ đạt và trở thành bậc danh sĩ lúc bấy giờ, trong đó có Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế.

Được theo học với thầy Nguyễn Thức Tự, năm 1897 Hoàng Kiêm đỗ tú tài, đến năm 1903 đỗ cử nhân. Năm 1904, ông vượt kỳ thi Hội và vào đến thi Đình, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, xếp thứ 3 sau Đặng Văn Thụy và Trần Quý Cáp. Vào đến kỳ thi Đình lần này còn có Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Sĩ Tạo và Nguyễn Mai.

Tin Hoàng Kiêm thi đỗ nhanh chóng đến làng quê, cả tổng Qùy Xá hân hoan nô nức chuẩn bị đón ông vinh quy bái tổ. Thầy Nguyễn Thức Tự tặng ông đôi câu đối nổi tiếng:

Thí hậu đoạt bào, thiên vị tài hoa trang diện mục
Môn tiền lập tuyết, nhân tương hàn mặc nhuận giang sơn

Nghĩa là:

Thi đỗ áo bào, trời vì tài hoa điểm trang mày mặt
Học dầm sương tuyết, người đem bút mực tô điểm non sông

Thi đỗ, ông được nhậm chức Hàn lâm viện Biên tu. Nhưng năm 1906, vì cha qua đời, Hoàng Kiêm từ quan để tang cha 3 năm.

Làm quan vì dân mà bất tuân lệnh người Pháp

Sau khi mãn tang cha, ông đảm nhận các chức vụ như: Tri phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh), rồi Tri phủ Hà Thanh, Lang trung bộ Hình, Án sát Thanh Hóa, Bố chính Thanh Hóa, và Tuần vũ Hà Tĩnh. Dù làm quan ở vị trí nào, Hoàng Kiêm cũng hỏi han đời sống dân chúng, gần gũi giúp dân chúng an cư lạc nghiệp.

Năm 1927, Hoàng Kiêm được thăng chức làm Tổng đốc Nam Nghĩa (Quảng Nam và Quảng Ngãi). Bấy giờ dân chúng nơi đây lâm vào cảnh đói khổ sau những thiên tai thường xuyên, lại gặp phải sưu cao thuế nặng.

Hoàng Kiêm làm Tổng đốc hết lòng chăm lo cho dân, nhiều lần dâng sớ xin miễn hoặc gia hạn thời gian nộp thuế để dân chúng có thời gian khôi mục mùa màng. Ông thường miễn các khoản sưu thế cho dân khiến người Pháp tức giận. Dù nhiều lần nhận sự đe dọa của viên Công sứ Pháp, ông vẫn bất hợp tác.

Năm 1930, khắp nơi mất mùa, đói kém liên miên, dân chúng rơi vào tình cảnh khốn khó, nhưng chính quyền Pháp vẫn thúc ép các nơi nộp thuế đầy đủ. Hoàng Kiêm vì dân mà bất tuân lệnh người Pháp, dân chúng khắp nơi đội ơn xem ông như Bồ Tát sống.

Hoàng Kiêm trù trừ việc thu thuế khiến chính quyền cử viên quan người Pháp đến gặp ông. Hoàng Kiêm nói lý do nhưng viên quan người Pháp không cần biết mà yêu cầu phải nộp đủ thuế. Ông đã ra tay tát luôn viên quan người Pháp rồi xin nghỉ việc về quê.

Giúp dân chúng nơi quê nhà

Trở về quê nhà huyện Diễn Châu, Hoàng Kiêm vận động dân chúng xây dựng nhiều công trình thủy lợi, cầu cống quan trọng như cầu Anh Liệt, đập Ba Ra Đô Lương, cùng hệ thống kênh mương tưới tiêu nối các huyện với nhau. Những công trình này giúp cải thiện đời sống dân chúng.

Tại quê nhà, Hoàng Kiêm cũng khuyến học, dạy chữ Nho.

Năm 1939, tiến sĩ Hoàng Kiêm mất, thọ 69 tuổi, dân chúng thương tiếc lập bài vị phối thờ ông tại đền làng Ngọc Lâm, xem như phúc thần.

Dân chúng Quảng Nam không quên công đức của ông, đã tặng hai bức hoành phi “Vạn gia sinh Phật” “Quảng Nam Bồ Tát”. Vua Khải Định ban cho ông sắc phong có chữ “thanh liêm”.

Bức đại tự “Quảng Nam Bồ Tát” của người dân Quảng Nam. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Sách “Quan lại trong lịch sử Việt Nam” nhận xét: “Ông làm quan to nhưng rất nghèo, có năm đến Tết mà nhà không có hương hoa cỗ bàn”, “Ông rất trong sáng, hiền từ, không giống bọn quan lại tham ô, mà thường chú ý đến việc làm lợi cho nhân dân”.

Trần Hưng

Xem thêm:

Xem video: