Thời Hồng Đức, kẻ làm thuê ở đợ cũng có cơ hội đỗ tiến sĩ
- Trần Hưng
- •
Dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì, Đại Việt bước vào thời kỳ Hồng Đức thịnh trị, nhiều bậc hiền tài được trọng dụng. Kể cả lính hầu, người ăn xin, hay những người ở đợ cũng có cơ hội phụng sự Xã Tắc thông qua thi cử.
Lưu Ngạn Quang
Thời nhà Lê, có người đàn ông vốn người làng Viên Khê chuyển đến làng Cổ Bôn (nay là xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) sinh sống, phải đi ở đợ cho các gia đình giàu có để kiếm cái ăn. Người ấy nên duyên cùng một cô gái mồ côi cha mẹ, sinh được cậu con trai đặt tện là Lưu Ngạn Quang.
Lúc Lưu Ngạn Quang còn nhỏ thì cha mất sớm, gia đình lại vướng phải khoản nợ nên cậu bé phải đi ở đợ hết nhà này đến nhà khác. Sau khi trả hết nợ thì Ngạn Quang về nhà làm thuê cùng mẹ.
Có được ít vốn, Lưu Ngạn Quang quyết định đi buôn, nhưng gặp phải đám quan lại tham ô nên bị mất hết. Thấy mình đi buôn mất hết là do không biết chữ nghĩa, Ngạn Quang quyết chí phải học hành. Từ đó ban ngày Ngạn Quang đi làm thuê ở chợ, tối đến thì đèn sách chăm chỉ.
Thấy Ngạn Quang vất vả mưu sinh lại vẫn chăm chỉ đèn sách, dân làng ai cũng cảm phục. Thầy của ông thương cho hoàn cảnh nên không lấy tiền. Có người hàng nước quý trọng Ngạn Quang, gả luôn con gái cho. Sau khi yên ổn việc lập gia đình, Ngạn Quang chăm chỉ dùi mài kinh sử.
Sau 3 năm miệt mài đèn sách, năm 24 tuổi, Ngạn Quang dự thi và đỗ kỳ thi Hương. Ông quyết định lên Kinh theo học để chuẩn bị cho kỳ thi Hội vào khoa thi tới.
Được sự hỗ trợ của mẹ và vợ, Ngạn Quang ở Kinh đô lo ăn học. Khoa thi năm 1481 thời vua Lê Thánh Tông, ông vượt qua kỳ thi Hội để vào kỳ thi Đình và đỗ Hoàng Giáp (tức đệ Nhị giáp Tiến sĩ). Lưu Ngạn Quang vinh quy bái tổ về nhà trong niềm sung sướng của mẹ, vợ, cùng người dân làng Cổ Bôn.
Vì từng trải qua thời gian sống cùng những người nghèo khổ nhất, Ngạn Quang rất hiểu nỗi khổ của người dân, do đó ông làm quan tạo phúc cho dân chúng. Triều đình trọng dụng ông, chỉ làm quan 1 năm đã được thăng lên làm Giám sát Ngự sử Lễ Bộ Tả thị lang khi mới 25 tuổi.
Lưu Ngạn Quang đã lập rất nhiều công đức. Khi ông mất, dân xứ Thanh đều thương tiếc, lập đền thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám và ở đình thờ tiên hiền của làng. Sự nghiệp của ông được lưu lại trong 2 câu thơ:
Kim bảng thạch bi truyền bất hủ
Thái Sơn, Bắc Đẩu ngưỡng duy cao
Diễn nghĩa:
Bảng vàng bia đá truyền mãi mãi
Công người như núi Thái Sơn Sao Bắc Đẩu
Đinh Thúc Thông

Làng Gián Khẩu và làng Quán Vinh thuộc xã Quán Vinh, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên (nay là Ninh Bình). Năm 1442, làng có gia đình họ Đinh rất nghèo khó sinh được người con trai là Đinh Thúc Thông. Có người nói Đinh Thúc Thông sinh ở làng Gián Khẩu, do gia đình quá nghèo nên phải đến làng Quán Vinh làm con nuôi. Nhưng cũng có người nói ông sinh ở làng Quán Vinh, từ bé đã đến làng Gián Khẩu làm con nuôi.
Năm Thúc Thông lên 9 tuổi thì cha nuôi mất, cậu bé phải xa nhà đi làm thuê cho nhà giàu ở tận làng Vũ Lăng thuộc tổng Bình Lăng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, thừa tuyên Sơn Nam (nay thuộc xã Chương Dương, Hà Nội).
Vì chủ nhà mời thầy đồ đến dạy học cho lũ trẻ trong nhà, nên Thúc Thông cũng được học ké.
Lớn lên, Thúc Thông đỗ kỳ thi Hương. Năm 1463, Triều đình mở khoa thi Hội, ông vượt qua tứ trường, vào thi Đình thì đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
Đây là khoa thi có có nhiều nhân tài đỗ đạt nhất, đỗ Tam khôi là 3 nhân tài bậc nhất trong lịch sử khoa bảng: Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, Thám hoa Quách Đình Bảo.
Thi đỗ, Đinh Thúc Thông vinh quy bái tổ về làng Gián Khẩu. Tuy nhiên do nhà ông quá bần hàn nên các hào trưởng trong làng không tổ chức làm lễ vinh quy. Ông dâng hương cha mẹ và gia tiên rồi đến Kinh thành nhậm chức.
Những câu chuyện dân gian lưu truyền tại làng Gián Khẩu và làng Quán Vinh cho thấy Đinh Thúc Thông luôn là vị quan giỏi. Sau khi thi đỗ ông giữ chức Hiệu lý ở Hàn Lâm viện, làm nhiệm vụ hiệu lý kinh tịch, văn thư, sau lại thăng lên làm Hàn lâm viện Trực học sĩ.
Năm 1470, ông được cử làm Án sát Nghệ An, sau được được giữ chức Thượng thư phụ trách một bộ.
Sau này đến thế kỷ 16, người dân làng Quán Vinh xây miếu thờ ông trên nền nhà cũ của cha mẹ ông. Sau đó các đời sau này đều có người trùng tu ngôi miếu này khang trang hơn.
Trần Hưng
Xem thêm:
- Thời vua Lê Thánh Tông, lính hầu cũng có thể trở thành tiến sĩ
- Hai trường hợp trong lịch sử khoa bảng từ ăn mày trở thành tiến sĩ
Mời xem video:
Từ khóa nhà Lê khoa bảng Lê Thánh Tông



![[VIDEO] Ý nghĩa “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa truyền thống](https://trithucvn2.net/wp-content/uploads/2026/01/thien-nhan-hop-nhat-446x295.png)





















![[VIDEO] Ý nghĩa “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa truyền thống](https://trithucvn2.net/wp-content/uploads/2026/01/thien-nhan-hop-nhat-160x106.png)



