Ngày 28/8, các bị cáo bị tuyên có tội trong vụ án Chi Liên hội, với cáo buộc “kích động lật đổ chính quyền nhà nước”, đã trình bày lời trần tình, xin giảm nhẹ hình phạt. Một trong các bị cáo là bà Trâu Hạnh Đồng chỉ ra trong bản trần tình rằng làm người phải có những giới hạn về nguyên tắc, pháp luật cũng vậy; sự khác biệt giữa dân chủ và chế độ độc tài chính là một trong những giới hạn quan trọng nhất, bởi dưới chế độ độc tài thì không thể có pháp quyền. Ánh nến suốt 30 năm tại Công viên Victoria đã chứng minh điều này. Chấm dứt chế độ độc đảng là giới hạn của người dân và cũng là nguyện vọng mang tính phổ quát. Khi pháp luật không tự lượng sức mình mà cố tình thách thức giới hạn này, thì chỉ có thể “tự chuốc lấy hổ thẹn”.

Bà Trâu Hạnh Đồng (Ảnh: Public domain/VOA)

Việc vụ án có bị xác định là “tình tiết nghiêm trọng” hay không sẽ trở thành trọng điểm trong việc quyết định hình phạt; trường hợp bị xác định là tình tiết nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 5 đến 10 năm. Bà Trâu cho biết bà từ chối dùng khái niệm tội phạm để phân tích xem những việc mà Chi Liên hội thực hiện có nghiêm trọng hay không. Tuy nhiên, tòa án có thể hỏi Văn phòng Bảo vệ An ninh Quốc gia tại Hồng Kông, bởi cơ quan này công khai tuyên bố rằng vụ án có tính chất nghiêm trọng và “hoàn toàn không cảm thấy rằng mình đang can thiệp vào sự độc lập của tư pháp”. Nếu cuối cùng tòa án xác định vụ án thuộc trường hợp “tình tiết nghiêm trọng”, bà sẽ coi đó là một lời khen, “cho thấy chúng tôi thực sự đã làm được điều gì đó”.

Bà chỉ ra rằng bản phán quyết dài 206 trang về cơ bản là một tuyên bố rằng “dân chủ là có tội”. Tuy nhiên, trong bản trần tình, bà cho biết: có thể tìm thấy sứ mệnh mà mình tin tưởng, tìm thấy những người đồng hành cùng mình là điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời.

Con đường mà bà đã cùng Chi Liên hội và người dân Hồng Kông đi qua, bà tuyệt đối không hối tiếc. Bà cũng cho biết, trong tương lai, dù ở trong tù hay ngoài tù, bà vẫn sẽ tiếp tục nỗ lực vì việc minh oan cho phong trào dân chủ năm 1989, truy cứu trách nhiệm về vụ thảm sát, chấm dứt chế độ độc đảng, xây dựng một Hồng Kông dân chủ và một Trung Quốc dân chủ, cho đến khi dân chủ thực sự trở thành hiện thực, “Đó là lời thề trang nghiêm mà tôi đã lập trước những người đã khuất giữa biển nến và tôi không định trở thành một người thất tín, bội ước”.

Cuối cùng, bà nói rằng nếu những việc mình làm khiến bà trở thành một “kẻ phạm tội” suốt đời, thì bà thà làm một kẻ phạm tội còn hơn trở thành người phản bội lương tri: “Tôi sẽ cùng tất cả người dân Hồng Kông không cam chịu số phận, tiếp tục bước đi trên con đường dân chủ còn dang dở này”.

Bản trần tình của bà Trâu Hạnh Đồng

  1. Bản phán quyết dài 206 trang, về cơ bản rốt cuộc cũng chỉ là: theo đuổi dân chủ là có tội.
  2. Tôi không tin rằng bất kỳ chính đảng nào có thể tự ý trao đổi, chuyển nhượng chủ quyền quốc gia, tự tuyên bố mình là sự lựa chọn của nhân dân, tự tuyên bố mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất, rồi còn nói rằng mỗi người đều có nghĩa vụ pháp lý phải ủng hộ ngai vàng do chính mình tự phong. Thứ gọi là pháp luật như vậy chẳng qua chỉ là một từ đồng nghĩa với bạo chính.
  3. Tin rằng chế độ độc tài là sai, dân chủ là đúng, vậy điều này nếu không phải là tín niệm thì còn là gì? Cho dù tòa án và chính quyền không ngừng lặp lại luận điệu rằng chúng tôi không bị xét xử vì tín niệm, thì cũng không thể thay đổi được một thực tế rằng, dưới phán quyết này, những người tin vào lý tưởng “chấm dứt chế độ độc đảng” đã không còn vị thế để tồn tại. Trong mắt thứ “pháp luật” như vậy, chỉ cần chúng tôi có tư tưởng này thì đã là vi hiến, là bất hợp pháp, là nguyên tội; cho dù chúng tôi chỉ đang thực hiện một việc hoàn toàn chính đáng, chẳng hạn như tưởng niệm sự kiện Lục Tứ, thì cũng sẽ vì sự “không đúng đắn” trong tư tưởng của chính chúng tôi mà bị biến thành tội phạm.
  4. Nhưng pháp luật không thể kiểm soát được tư tưởng của mọi người. Không những không thể kiểm soát mà một khi pháp luật cố tình đi ngược lại với lương tri thì bên chịu thất bại cuối cùng chỉ có thể là pháp luật, thứ mất đi tính chính danh cũng chỉ có thể là pháp luật.
  5. Làm người phải có giới hạn nguyên tắc, pháp luật cũng vậy. Sự phân biệt giữa dân chủ và chế độ độc tài chính là một trong những giới hạn nguyên tắc quan trọng nhất, bởi dưới chế độ độc tài thì không thể có pháp quyền. Khi tòa án hoàn toàn gạt bỏ những nguyên nhân thực tế dẫn đến việc xuất hiện yêu cầu “chấm dứt chế độ độc đảng”, cũng như vấn đề đúng – sai của yêu cầu đó, mà chỉ mù quáng nhấn mạnh ý chí của chính quyền và cái gọi là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, thì chẳng khác nào nói rằng sống dưới chế độ Đức Quốc xã cũng có nghĩa là phải tàn sát người Do Thái. Cách làm như vậy sẽ chỉ khiến pháp luật đánh mất bản chất công bằng vốn có, trở thành con rối mặc cho quyền lực sai khiến.
  6. Chính thái độ không xét đến đúng sai, mà chỉ đòi hỏi sự phục tùng, đã gây ra hết thảm kịch này đến thảm kịch khác dưới chế độ Đức Quốc xã và dưới các chế độ toàn trị. Thế nhưng hiện nay, từ tòa án cho đến nhà nước đều đang đi lại đúng con đường nguy hiểm ấy. Thậm chí, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự gia tăng sức mạnh quốc gia, cũng như việc quốc gia trở thành một “cường quốc” được công nhận, mối nguy hiểm hiện nay thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với thời đó.
  7. Là công dân, chúng ta có trách nhiệm đưa quyền lực nhà nước trở lại trong khuôn khổ dân chủ, thực hiện nghĩa vụ của những người làm chủ đất nước là kiểm soát và giám sát quyền lực ấy. Làm như vậy không chỉ nhằm đòi lại công bằng cho những tổn thương trong quá khứ, mà còn nhằm ngăn chặn những thảm họa lớn hơn tái diễn. Nếu cứ nhân danh an ninh quốc gia để nuôi lớn một bộ máy nhà nước mà chúng ta không thể kiểm soát, để bộ máy ấy bào mòn nhân tính và lương tri, thì việc bi kịch xảy ra chỉ còn là vấn đề thời gian.
  8. Vì vậy, chấm dứt chế độ độc đảng là trách nhiệm mà thế hệ người Hồng Kông chúng tôi, cũng như người Trung Quốc, không thể né tránh. Nhiệm vụ này nhất định phải do chính chúng tôi hoàn thành và chỉ có thể do chính chúng tôi hoàn thành; không một người nào từ bên ngoài có thể làm thay chúng tôi.
  9. Đây là suy nghĩ và niềm tin chân thành của tôi, hơn nữa không chỉ là niềm tin của riêng tôi – ánh nến tại Công viên Victoria suốt 30 năm qua đã chứng minh điều đó. “Chấm dứt chế độ độc đảng” là giới hạn của người dân, là nguyện vọng mang tính phổ quát. Khi pháp luật không tự lượng sức mình mà cố tình thách thức giới hạn ấy, thì chỉ có thể tự chuốc lấy hổ thẹn.
  10. Tòa án cố tình giả vờ rằng vấn đề không nằm ở việc truyền bá tư tưởng, mà ở cái gọi là “gieo rắc thù địch”. Nhưng niềm tin vào việc “chấm dứt chế độ độc đảng” chưa bao giờ cần dựa vào thứ tư duy phân chia địch – ta hay kích động lòng thù hận để duy trì. Chúng tôi chỉ cần nói lý lẽ, nói sự thật, cũng đã đủ để nhận được sự ủng hộ của tất cả những người hiểu lẽ phải.
  11. Bởi bản thân chế độ độc tài đã là một trong những sự bất công lớn nhất và rõ ràng nhất; coi thường quyền bình đẳng và quyền tự chủ của mỗi người, áp đặt một trật tự cai trị không thể biện minh bằng bất kỳ lý lẽ nào, biến những công dân vốn được tự do thành những người nô lệ không có quyền lựa chọn. Chấm dứt chế độ độc đảng chẳng qua chỉ là đòi lại phẩm giá vốn có của con người mà thôi và đạo lý này, bất kỳ ai không cố tình giả vờ nhắm mắt làm ngơ cũng đều có thể nhìn thấy rõ.
  12. Chỉ những người không thể dùng lý lẽ để thuyết phục người khác mới ngày ngày phải dựa vào việc kích động hận thù để tập hợp lực lượng, còn chúng tôi hoàn toàn không cần đến điều đó. Chỉ những người hoàn toàn thiếu tự tin mới nhìn đâu cũng thấy sự thù địch, còn chúng tôi tuyệt đối không nhìn thế giới theo cách ấy. Chúng tôi có niềm tin tuyệt đối vào những điều mình tin tưởng và kiên trì theo đuổi. Việc chế độ độc tài dựa vào hận thù để duy trì sự thống trị của mình không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải sử dụng cách thức của nó, càng không có nghĩa là thế giới này thực sự vận hành xoay quanh hận thù. Niềm tin vào sự bình đẳng và công lý, sự tôn trọng đối với nhân tính và sự thật, từ trước đến nay vẫn luôn là những sức mạnh lớn lao và bền vững hơn hận thù.
  13. Niềm tin là một điều không thể tính toán, cũng không thể đem ra trao đổi. Vì tất cả những gì mình tin tưởng mà cầu xin và xin lỗi là điều giả dối nhất, đồng thời cũng là sự xúc phạm đối với tất cả những người cùng mang niềm tin ấy. Vì vậy, tôi sẽ không làm như thế, cũng không thể làm như thế. Ngay cả những kẻ hành quyết trong vụ thảm sát cũng còn chưa đứng ra xin lỗi, thì khi nào mới đến lượt chúng tôi?! Cho dù thế đạo có đảo lộn đến đâu thì chúng tôi cũng không nên xin lỗi về những điều sai trái mà chính quyền đã làm, để rồi biến bản thân mình thành một phần của sự đảo lộn ấy.
  14. Đối với tất cả những gì đã qua, tôi từ chối dùng ngôn ngữ và khái niệm về tội phạm để phân tích những việc chúng tôi đã làm là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng. Nếu tòa án thực sự muốn tìm bất kỳ một căn cứ tham khảo nào đó, có thể hỏi Văn phòng Bảo vệ An ninh Quốc gia tại Hồng Kông; cơ quan này mới thực sự biết cách nhìn những nỗ lực đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền dưới góc độ tội phạm. Họ còn không hề che giấu khi liên tục tuyên bố rằng vụ án này có tính chất nghiêm trọng và nhất thiết phải bị trừng phạt nghiêm khắc, hoàn toàn coi thường tính độc lập của tư pháp. Dù thế nào đi nữa, nếu cuối cùng tòa án thực sự phán định chúng tôi thuộc trường hợp “tình tiết nghiêm trọng”, tôi sẽ coi đó là một lời khen dành cho chúng tôi, bởi điều đó có nghĩa là chúng tôi đã thực sự làm được điều gì đó.
  15. Có thể tìm thấy sứ mệnh mà bản thân tin tưởng, tìm thấy những người đồng hành có thể sát cánh chiến đấu cùng mình là điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời. Vì vậy, đối với con đường mà tôi đã cùng Chi Liên hội và người dân Hồng Kông đi qua, tôi không hề hối tiếc. Chỉ là gia đình và những người yêu thương tôi đã phải chịu nhiều vất vả và họ cũng là những người duy nhất mà tôi muốn xin được tha thứ.
  16. Còn đối với tương lai, dù ở trong tù hay ngoài tù, tôi sẽ tiếp tục nỗ lực, học hỏi, trau dồi bản thân và tìm mọi cách để thúc đẩy việc trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ, minh oan cho phong trào dân chủ năm 1989, truy cứu trách nhiệm về vụ thảm sát, chấm dứt chế độ độc đảng, xây dựng một Hồng Kông dân chủ và một Trung Quốc dân chủ, cho đến khi dân chủ trở thành hiện thực. Đây là lời cam kết mà tôi đã nhiều lần công khai đưa ra. Đó là lời thề trang nghiêm mà tôi đã lập trước những người đã khuất giữa biển nến và tôi không định trở thành một người thất tín, bội ước.
  17. Nếu pháp luật thực sự không thể dung chứa niềm tin của chúng tôi và điều đó khiến tôi trở thành một kẻ phạm tội suốt đời, thì tôi thà làm một kẻ phạm tội còn hơn trở thành một người phản bội lương tri. Tôi sẽ cùng tất cả người dân Hồng Kông không cam chịu số phận, tiếp tục bước đi trên con đường dân chủ còn dang dở này.
  18. Ánh nến như biển, lòng người cuộn sóng; Dẫu thân mình tan nát như sóng vỗ bờ đá, nỗi bất bình vẫn không nguôi. 

Truy Quang Giả

(Bài viết chỉ thể hiện lập trường và quan điểm cá nhân của tác giả, bản tiếng Trung được đăng trên Vision Times)