Đôi nét về Chu Mạnh Trinh
- Trần Hưng
- •
Được biết đến là người hay chữ và có nhiều tác phẩm văn học đặc sắc, Chu Mạnh Trinh còn trợ giúp vũ khí, lương thực cho các cuộc khởi nghĩa chống Pháp thời bấy giờ.
Tiến sĩ khoa bảng
Thời nhà Nguyễn, Ngự sử Chu Duy Tĩnh là vị quan thanh liêm, chuyên can gián Vua và giám sát các quan lại khác. Năm 1862, vợ chồng ông sinh được người con trai là Chu Mạnh Trinh ở làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Đông Yên, tỉnh Hưng Yên.
Sinh trưởng trong gia đình quan lại, từ bé Chu Mạnh Trinh đã được ăn học đầy đủ, lại có tiếng là thông minh, giỏi văn chương. Đến năm 19 tuổi, ông thi đỗ tú tài và theo học với Phó bảng Phạm Hy Lượng. Nhờ học tập chuyên cần nên Mạnh Trinh được thầy quý mến, mấy năm sau thì được thầy gả con gái cho.
Năm 25 tuổi, Mạnh Trinh đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1885. Đến khoa thi năm 1892 thì ông đỗ tiến sĩ, được cử làm Tri phủ Lý Nhân (thuộc Hà Nội ngày nay). Ông làm quan có tiếng là công minh chính trực, từng phạt roi vị tu sĩ người Pháp vì cậy thế lộng hành.
Làm Tri phủ ít lâu thì ông được thăng chức làm Án sát Thái Nguyên. Sau đó cha mất, ông xin về quê chịu tang cha, sau đó làm Án sát các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên.
Để lại các công trình và tác phẩm văn học
Chu Mạnh Trinh là người hay chữ, ông để lại tập “Vịnh Kiều” truyền đời, “Trúc vân thi tập”, đặc biệt là bài ca trù “Hương Sơn phong cảnh ca” – một tác phẩm chữ Nôm đặc sắc ca ngợi cảnh đẹp chùa Hương.
Chu Mạnh Trinh cũng có công trùng tu chùa Thiên Trù (nằm trong quần thể Hương Sơn), công trình này trở thành danh thắng của Hương Sơn.
Năm 1894, ông trực tiếp khởi xướng và xây dựng đền thờ Thánh bất tử Chử Đồng Tử – Tiên Dung ở xã Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên. Ông huy động dân chúng 8 thôn thuộc tổng Mễ Sở cùng xây dựng. Công trình có 18 hạng mục lớn nhỏ như: trấn giang lâu, lầu chuông, lầu khánh, ngọ môn… Công trình gợi nhớ đến câu chuyện và Tiên Dung và Chử Đồng Tử, ôn lại văn hóa cổ truyền của dân tộc cùng việc tu Đạo ngày xưa. Đền thờ xây xong được đặt tên là đền Đa Hòa.
Chu Mạnh Trinh có bài “Dạ Trạch Tiên gia phú” (“Dạ Trạch” là đầm Dạ Trạch trong câu chuyện về Tiên Dung và Chử Đồng Tử). Năm 1905 một đàn cầu được tổ chức ở đền Đa Hòa, bài “Dạ Trạch tiên gia phú” này được coi là bài “giáng bút” của Chử Đạo tổ (tức Chử Đồng Tử), bài phú này được khắc lên ngôi đền này.
Cung cấp vũ khí, lương thực giúp nghĩa quân chống Pháp
Các tài liệu do người Pháp để lại đã cho thấy Chu Mạnh Trinh trợ giúp rất nhiều cho các nghĩa quân và bị người Pháp theo dõi sát.
Vua Đồng Khánh cử Chu Mạnh Trinh nhận chức Án sát các tỉnh là để đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp lúc đó. Nhưng ông lại đánh các cuộc khởi nghĩa, mà Triều đình lại nhận được tin tức ông không chịu xử tử các nghĩa sĩ bị bắt, còn ngầm giúp đỡ các nghĩa quân.
Theo tài liệu của người Pháp được lưu trữ tại “Trung tâm Lưu trữ quốc gia I” thì người Pháp thep dõi Chu Mạnh Trinh rất sát vì nghi ngờ ông mua vũ khí hỗ trợ cho các phong trào Cần Vương ở ngoài bắc.
Nội bộ của người Pháp nhận xét rằng:
“Án Chu (tức quan Án sát Chu Mạnh Trinh) là viên chức mẫn cán, trẻ tuổi, hoạt bát, năng nổ, hay chữ và rất thông tuệ, nhưng không đủ trung thành với mẫu quốc”.
“Ông ta đáng nghi ngại đến nỗi tôi không thể tin tưởng viên quan này chút nào, và tôi hy vọng ông ta sẽ được theo dõi sát sao!”.
Các ghi chép cho thấy ông đã chuyển tiền bạc, vũ khí, lương thực giúp nghĩa quân, và phong trào yêu nước của Phan Bội Châu. Ông tận dụng các mối quan hệ với các bang hội buôn bán để tìm nguồn súng đạn từ nước ngoài (qua ngả Hải Phòng) rồi chuyển cho nghĩa quân. Người Pháp đưa ông vào danh sách “nguy cơ” và theo dõi rất sát.
Năm 1905, phong trào Đông Du nhen nhóm phát triển, người Pháp thắt chặt theo dõi giới trí thức và Nho học.
Chu Mạnh Trinh mất năm 1905 khi mới 43 tuổi và còn rất khỏe, không rõ lý do ông mất.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa nhà Nguyễn khoa bảng chống Pháp




























