Kể từ thời Chiến tranh Lạnh, các chính quyền độc tài thường xuyên bị cáo buộc lợi dụng nhiều loại hình “ngành nghề xám” — những hoạt động kinh tế nằm giữa ranh giới hợp pháp và bất hợp pháp như lừa đảo xuyên quốc gia, tài chính ngầm, buôn bán người, giao dịch ma túy, sản xuất tiền giả và buôn lậu — để đạt được các mục đích kinh tế và chiến lược của mình.

Trần Chí (bên phải) bị bắt dẫn độ từ Campuchia về Trung Quốc. (Ảnh: Tài liệu công cộng)

Trong thế kỷ 21, hiện tượng này đặc biệt nổi bật trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Campuchia. Những năm gần đây, Campuchia đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho nhiều tập đoàn tội phạm mạng và lừa đảo xuyên quốc gia, trong đó một phần đáng kể có mối liên hệ mật thiết với mạng lưới tội phạm Trung Quốc. Những ngành nghề xám này đã trở thành một hình thức “chiến tranh hỗn hợp” nhắm vào thế giới tự do.

Thực trạng hiệp ước hợp tác ngành nghề xám Trung Quốc – Campuchia

Sự hợp tác ngầm giữa Trung Quốc và Campuchia trong các ngành nghề xám đã có từ lâu, nhưng đặc biệt bùng nổ trong hai thập kỷ gần đây. Vào giữa những năm 2010, cùng với dòng vốn và nhân lực khổng lồ từ Trung Quốc đổ vào các đặc khu kinh tế như cảng Sihanoukville (Tây Cảng), hàng loạt “khu phức hợp lừa đảo” (scam compounds) xuyên quốc gia đã ra đời.

Về mặt hình thức, các khu vực này có thể là các đặc khu kinh tế hoặc khu nghỉ dưỡng đánh bạc do Trung Quốc đầu tư, nhưng thực tế lại pha trộn giữa kinh doanh hợp pháp và các hoạt động phi pháp, được gọi là “Đặc khu kinh tế xám”. Các nhà đầu tư tư nhân Trung Quốc đôi khi tự thành lập các đặc khu này để che đậy các hoạt động bất hợp pháp như lừa đảo viễn thông, đánh bạc trực tuyến, lợi dụng các điều kiện ưu đãi về thuế, đất đai và sự lỏng lẻo trong thực thi pháp luật của các quốc gia Đông Nam Á để trục lợi bất chính.

Lấy Sihanoukville làm ví dụ, chỉ trong vài năm ngắn ngủi, nơi đây đã tập trung hàng trăm sòng bạc thực tế và công ty đánh bạc trực tuyến, thu hút lượng lớn tập đoàn tội phạm Trung Quốc tiến trú. Mặc dù vào cuối năm 2019, theo yêu cầu của Trung Quốc, Chính phủ Campuchia đã ban hành lệnh cấm đánh bạc trực tuyến, nhưng lệnh cấm này thực chất chỉ mang tính hình thức, nhiều tập đoàn tội phạm đã chuyển đổi các tòa nhà sòng bạc trống rỗng thành các trung tâm lừa đảo viễn thông.

Trong thời kỳ đại dịch, khi ngành du lịch đình trệ, các khu phức hợp này càng chuyển đổi mạnh mẽ thành những “công xưởng lừa đảo”, thậm chí thông qua buôn bán người để dụ dỗ lao động từ các nước láng giềng đến Campuchia làm việc.

Interpol vào năm 2023 đã đưa ra cảnh báo toàn cầu hiếm hoi rằng tại Campuchia, Lào và Myanmar đã xuất hiện hiện tượng cưỡng bức lao động lừa đảo trực tuyến với “quy mô công nghiệp”. Campuchia đã trở thành trung tâm tập kết của tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia.

Cục diện này không thể tách rời sự phối hợp ngầm giữa chính quyền Trung Quốc và Campuchia. Quy mô của ngành công nghiệp lừa đảo do mạng lưới tội phạm Trung Quốc vận hành tại Đông Nam Á là vô cùng kinh khủng, mỗi năm chiếm đoạt hàng chục tỷ USD toàn cầu, có thể sánh ngang với nền kinh tế tội phạm của buôn bán ma túy. Một phần đáng kể trong đó nhắm vào công dân các nước phương Tây như Mỹ. Theo ước tính, các nạn nhân tại Mỹ đã thiệt hại hơn 5 tỷ USD vào năm 2024 do các hình thức lừa đảo đầu tư liên quan đến Trung Quốc, tăng 42% so với năm 2023.

Nghiên cứu của Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung (USCC) chỉ ra rằng các tập đoàn lừa đảo này thường mang dáng vẻ “thân ĐCSTQ yêu nước”, chủ động ủng hộ sáng kiến “Vành đai và Con đường” và lan truyền các tuyên truyền thân Bắc Kinh ở hải ngoại để đổi lấy sự ngầm thừa nhận hoặc bảo hộ từ chính quyền Trung Quốc, hoặc ít nhất là nhận được “sự ủng hộ mặc nhiên” từ một số cơ quan quyền lực của Trung Quốc.

Ví dụ điển hình: Tập đoàn Thái Tử (Prince Group) tại Sihanoukville, bề ngoài kinh doanh bất động sản, tài chính hợp pháp, nhưng thực tế bị nhiều quốc gia cáo buộc là một trong những tập đoàn lừa đảo lớn nhất thế giới. Người đứng đầu là Trần Chí, một tỷ phú gốc Hoa bí ẩn tại Campuchia. Có tin đồn ông từng là quản gia của một bí thư thành phố tại Quảng Đông, lâu nay vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, kết giao với giới chính trị và kinh doanh tại Đông Nam Á và Đài Loan. Chỉ đến khi chịu áp lực chung từ Mỹ và Trung Quốc, chính quyền Campuchia mới đột ngột bắt giữ Trần Chí và nhanh chóng dẫn độ về Trung Quốc để xét xử.

Tuy nhiên, sự hợp tác và dung túng trong lĩnh vực xám đã mang lại lợi ích thực chất cho cả hai bên: Campuchia thu hút được vốn đầu tư và lợi ích kinh tế để duy trì chính quyền và tầng lớp tinh anh; Trung Quốc thông qua các mạng lưới phi pháp này để mở rộng ảnh hưởng và tầm kiểm soát an ninh tại Campuchia, đẩy các yếu tố bất ổn trong nước ra nước ngoài, đồng thời cho phép các tập đoàn lừa đảo nhắm vào mục tiêu phương Tây để “tiếp máu” cho chính quyền.

Mục tiêu của ngành nghề xám Trung – Cam là thế giới tự do

Trung Quốc mặc nhiên để các thế lực lừa đảo này lớn mạnh ở hải ngoại miễn là không tổn hại đến lợi ích của chính họ, từ đó biến tướng chuyển giao tác hại sang xã hội phương Tây. Theo nghĩa này, sự hợp tác và dung túng của Trung Quốc và Campuchia quanh các ngành nghề xám có tác dụng đối kháng với thế giới tự do. Một lượng lớn người dân trong thế giới tự do trở thành nạn nhân của các tập đoàn lừa đảo Đông Nam Á, trật tự tài chính và niềm tin xã hội bị xói mòn, trong khi những kẻ đẩy sau lại nằm ngoài trách nhiệm chủ quyền.

Bên cạnh lừa đảo viễn thông, Trung Quốc và Campuchia còn có sự tương tác chặt chẽ trong các lĩnh vực tài chính đen, ma túy và buôn lậu. Ngành công nghiệp đánh bạc và bất động sản đang bùng nổ của Campuchia gần đây bị quốc tế xác định là ngành có rủi ro rửa tiền cao. Cuộc điều tra của Văn phòng Liên Hợp Quốc về Chống Ma túy và Tội phạm (UNODC) phát hiện hàng trăm sòng bạc tại Campuchia, Lào và Myanmar đã trở thành trung tâm rửa tiền cho các khoản thu lợi từ lừa đảo trực tuyến toàn cầu, xây dựng nên một mạng lưới “ngân hàng bóng tối” song song với hệ thống ngân hàng chính thống.

Các sòng bạc và tiệm cầm đồ ngầm này có thể luân chuyển những khoản tiền lớn giữa các khu vực tài phán mà không bị kiểm soát, làm giảm độ khó cho việc di chuyển dòng tiền tội phạm xuyên biên giới. Ví dụ: Cảnh sát Singapore năm 2023 đã triệt phá vụ rửa tiền xuyên quốc gia khổng lồ, đóng băng tài sản trị giá hơn 2 tỷ USD, trong đó có một tập đoàn tội phạm liên quan đến Campuchia đã thông qua buôn lậu vàng và trang sức để chuyển tiền lừa đảo từ Đông Nam Á về Trung Quốc.

Trong lĩnh vực ma túy, Campuchia nằm trên vùng mở rộng của hành lang ma túy Tam giác Vàng, đang dần bị kéo vào quá trình sản xuất và trung chuyển ma túy khu vực. Các vụ án trùm ma túy Trung Quốc và Đông Nam Á hợp tác mở xưởng sản xuất ma túy tại Campuchia thường xuyên xảy ra. Sự tham nhũng trong hành pháp khiến Campuchia trở thành lộ trình vận chuyển ma túy thuận tiện, thông qua các thao tác tiền ảo, mạng lưới tội phạm đã vươn tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Buôn lậu sản phẩm động vật hoang dã, gỗ quý, trang sức giả và kim loại quý cũng hình thành chuỗi cung ứng đen giữa Trung Quốc và Campuchia. Nhu cầu khổng lồ của thị trường Trung Quốc đối với ngà voi, vảy tê tê và gỗ hồng mộc đã thúc đẩy nạn buôn lậu tại Campuchia. Nhiều thương nhân buôn lậu Trung Quốc thông qua hối lộ quan chức Campuchia để thu mua và vận chuyển quy mô lớn các loài động vật hoang dã và gỗ quý hiếm. Loại kinh tế xám này không chỉ phá hoại sinh thái mà còn mang lại lợi nhuận kếch xù cho các tập đoàn tham nhũng của cả hai nước.

Về mặt địa chính trị, sự hợp tác này tạo ra hiệu ứng gián tiếp làm suy yếu trật tự phương Tây. Dù là lừa đảo, buôn lậu ma túy hay giao dịch tiền ảo ngầm, chúng đều cấu thành thách thức đối với sự ổn định tài chính và sức khỏe xã hội của các quốc gia khác. Chiến tranh hỗn hợp đã bắt đầu diễn ra ngay quanh chúng ta.

Mô hình Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh

Sự hợp tác ngành nghề xám giữa Trung Quốc và Campuchia ngày nay không phải là cá biệt. Thời đỉnh cao Chiến tranh Lạnh, các chính quyền độc tài như Liên Xô và các nước vệ tinh, Bắc Triều Tiên, Cuba đều từng dính líu hoặc bị cáo buộc dính líu đến nhiều hoạt động phi pháp hoặc xám để đối kháng phương Tây và duy trì chính quyền. Các hoạt động này bao gồm tiền giả, ma túy, vũ khí, buôn người và cả tài trợ khủng bố.

Về phía Liên Xô, dù bề ngoài là lãnh đạo duy trì cách mạng thế giới, nhưng Moscow cũng bị cáo buộc lợi dụng các phương thức kinh tế phi pháp để làm suy yếu phe phương Tây hoặc trục lợi. Ngay từ thời kỳ đầu sau Thế chiến II, cơ quan tình báo Liên Xô đã cân nhắc việc sản xuất tiền giả để gây rối loạn kinh tế các nước tư bản, được xem là một trong những “vũ khí phụ” của Chiến tranh Lạnh.

KGB từng chờ cơ hội in giả đồng USD, thông qua mạng lưới gián điệp tuồn vào phương Tây nhằm phá hoại uy tín đồng đô la hoặc chiếm dụng vốn. Nổi tiếng hơn là kế hoạch “biện pháp tích cực” (active measures), Liên Xô thông qua các tài liệu giả mạo, tán phát thuyết âm mưu để làm suy yếu sự ổn định chính trị của phương Tây, bao gồm cả việc dàn dựng các cơn hoảng loạn kinh tế hoặc khuyến khích tệ nạn ma túy.

Trong khối cộng sản Đông Âu, các trường hợp tương tự còn rõ ràng hơn. Đảng cầm quyền Đông Đức đã thành lập một cơ quan bí mật tên là Ủy ban Điều phối Thương mại (KoKo), do Alexander Schalck-Golodkowski điều hành, chuyên thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế xám để đổi lấy ngoại tệ phương Tây. KoKo của Đông Đức thông qua nước thứ ba để bí mật bán vũ khí, buôn lậu vàng và hàng xa xỉ, thậm chí không ngại vi phạm nguyên tắc của khối xã hội chủ nghĩa để giao dịch ngầm với chính quyền phân biệt chủng tộc Nam Phi và các doanh nghiệp phương Tây.

Đồng thời, một số quốc gia Đông Âu cũng bị cuốn vào hành lang ma túy quốc tế. Cơ quan tình báo Bulgaria vào những năm 1970-80 bị nghi ngờ hỗ trợ vận chuyển các loại ma túy từ thuốc phiện sản xuất tại Trung Đông sang Tây Âu. Do khó khăn kinh tế nội bộ trong khối phía Đông, không ít chính quyền đã mặc nhiên cho phép các công ty nhà nước hoặc cơ quan tình báo tham gia mua bán trên thị trường đen, như Ba Lan vào những năm 1980 cũng nổ ra bê bối quan chức cao cấp tham gia buôn lậu.

Bắc Triều Tiên và Cuba kéo dài đến nay

Bắc Triều Tiên là một ví dụ điển hình hơn. Là một thể chế cực quyền và bị trừng phạt lâu dài, chính quyền Bắc Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh đặc biệt dựa vào các hoạt động phi pháp để duy trì kinh tế và phát triển quân bị, được gọi là đại diện của “quốc gia tội phạm” (criminal state). Học viện Chiến tranh Mỹ thậm chí còn gọi tiền giả, ma túy, dược phẩm sinh học, buôn lậu rượu thuốc của Bắc Triều Tiên là “tổ hợp hành vi bất hợp pháp”, cho rằng mục đích của nó là lách trừng phạt để lấy ngoại tệ, đồng thời cấu thành mối đe dọa an ninh phi truyền thống đối với phương Tây.

Nổi bật nhất là kế hoạch làm giả đồng USD. Từ những năm 1990, Mỹ cáo buộc Bình Nhưỡng sản xuất hàng loạt tờ 100 USD giả chất lượng cực cao, thường gọi là “siêu tiền giả” (supernotes) lưu thông toàn cầu. Đối với Mỹ, đây tương đương với hành vi tấn công trực tiếp vào hệ thống tài chính USD, do đó nhiều lần được đưa vào nghị trình trừng phạt và đàm phán hạt nhân. Bộ Tài chính Mỹ thậm chí coi tiền giả của Bắc Triều Tiên là “cuộc tấn công trực tiếp vào tài sản quốc gia Mỹ được bảo hộ”.

Ngoài tiền giả, Bắc Triều Tiên còn sản xuất và buôn lậu ma túy quy mô lớn, bao gồm heroin và ma túy đá, vận chuyển sang thị trường Đông Á và phương Tây. Ngay từ những năm 1970, nhân viên ngoại giao Bắc Triều Tiên đã nhiều lần bị bắt vì buôn lậu ma túy ở nước ngoài; đầu những năm 2000, các vụ án ma túy khổng lồ bị triệt phá tại Úc và Nhật Bản cũng chỉ hướng về bối cảnh quốc doanh của Bắc Triều Tiên.

Về vũ khí, Bình Nhưỡng trong nhiều năm đã thông qua các kênh bí mật để bán vũ khí cho các bên xung đột ở Trung Đông và Châu Phi, bao gồm cả công nghệ tên lửa đạn đạo, vừa để thu lợi vừa để phá hoại sự ổn định khu vực. Sự xuất khẩu tội phạm do nhà nước dẫn dắt này của Bắc Triều Tiên thực chất đã trở thành một phần trong chiến lược đối ngoại, nên được gọi là “thực thể tội phạm quốc gia khác thường”. Bắc Triều Tiên đã phát huy ngành nghề xám đến mức cực đoan, do tầng lớp tinh anh cai trị trực tiếp điều khiển, thách thức trật tự quốc tế bằng phương thức cực kỳ bất đối xứng.

Cuba vào cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng bị cuốn vào cơn sóng buôn lậu ma túy quốc tế. Những năm 1980, cơ quan tình báo Mỹ tiết lộ cấp cao Cuba có thể dính líu đến việc hỗ trợ các trùm ma túy Mỹ Latinh vận chuyển cocaine vào Mỹ. Chấn động nhất là năm 1989, Castro ra lệnh bắt giữ và xử tử một nhóm quan chức quân đội cao cấp với cáo buộc riêng tư tham gia giao dịch ma túy. Theo tài liệu thẩm vấn được công bố sau đó, từ năm 1986, kẻ cầm đầu Arnaldo Ochoa Sánchez đã nhiều lần hợp tác với các trùm ma túy Colombia, biến Cuba thành lộ trình mới vận chuyển ma túy vào Mỹ.

Chính quyền Castro khẳng định đây là sự tự ý tham nhũng của các tướng lĩnh, không có sự chỉ đạo từ cấp cao; nhưng bên ngoài phổ biến nghi ngờ rằng Chính phủ Cuba ít nhất đã mặc nhiên hoặc thậm chí chủ đạo phi vụ ngầm này. Sau khi viện trợ từ Liên Xô giảm bớt, Havana rất cần USD, và buôn bán ma túy cung cấp nguồn tài chính bí mật. Phía Mỹ khi đó cáo buộc Cuba tham gia cái gọi là “chủ nghĩa khủng bố ma túy” (narco-terrorism), tức là âm mưu lợi dụng ma túy để làm suy yếu xã hội Mỹ.

Dù là tập đoàn lừa đảo ở Campuchia, tiền giả và chiến tranh tình báo của Liên Xô, hệ thống tội phạm quốc gia của Bắc Triều Tiên hay các giao dịch xám của Cuba và các nước Đông Âu, tất cả đều thể hiện một logic chung: lợi dụng các ngành nghề phi pháp để thực thi chiến lược quốc gia. Sự hợp tác hiện nay giữa Trung Quốc và Campuchia trong các lĩnh vực xám như lừa đảo chính là sự tiếp nối và biến thể đương đại của mô hình này.

Tính cai trị không gian xám của các quốc gia độc tài

Hoạt động của các quốc gia độc tài trong ngành nghề xám thể hiện “địa chính trị của tính cai trị”. Các chính quyền này đưa hoạt động phi pháp vào hệ thống kinh tế cai trị của mình, nhưng áp dụng chiến lược mập mờ về tính hợp pháp. Các quốc gia này cố tình làm mờ trách nhiệm chủ quyền, sắp xếp các hoạt động tội phạm diễn ra ở nước ngoài hoặc vùng xám để trốn tránh luật pháp trong nước và sự lên án của quốc tế.

Bề ngoài họ tuyên bố trấn áp tội phạm nghiêm ngặt, thực hiện nghĩa vụ quốc tế, nhưng thực tế lại lợi dụng các khoản thu lợi phi pháp này để duy trì sự cai trị hoặc đạt được các mục tiêu địa chính trị. Ví dụ: Các tập đoàn lừa đảo xuyên quốc gia của Trung Quốc đa phần đóng đô ở ngoài lãnh thổ như các vùng tự trị của Campuchia, Myanmar — những nơi an ninh mất kiểm soát và nằm ngoài tầm với — Chính phủ Trung Quốc có thể rũ bỏ trách nhiệm, đồng thời thông qua các kênh ngoại giao và tình báo để ngầm ảnh hưởng đến cục diện địa phương.

Khi dư luận quốc tế lên án nạn lừa đảo lộng hành, Bắc Kinh có thể phô trương tham gia các chiến dịch chung, ký kết hiệp định phối hợp để xây dựng hình ảnh một cường quốc có trách nhiệm. Nhưng trong thực thi thực tế, phía Trung Quốc chỉ tập trung vào phần gây hại cho lợi ích Trung Quốc, còn đối với mạng lưới tội phạm nhắm vào người nước ngoài thì xử lý tương đối kín tiếng.

Sự thực thi pháp luật chọn lọc này thể hiện đầy đủ sự tính toán trong cai trị. Quốc gia sẽ phân chia chiến lược loại hành vi phi pháp nào là không thể dung thứ, loại nào có thể mặc nhiên tiến hành, từ đó vừa duy trì trật tự cai trị, vừa tối đa hóa lợi ích xám.

Việc các quốc gia độc tài vận dụng ngành nghề xám còn thể hiện một loại “cai trị phản cai trị”, tức là bên ngoài tuyên bố cai trị nghiêm khắc các hoạt động phi pháp, bên trong thực tế vận dụng hoạt động phi pháp để duy trì chính quyền. Nghịch lý này có thể giải thích bằng ẩn dụ “miễn dịch” của học giả người Ý Roberto Esposito: Để tự bảo tồn, quốc gia đôi khi giống như mắc bệnh tự miễn, sử dụng các phương thức mang tính phá hoại, hy sinh một phần nguyên tắc pháp quyền hoặc phúc lợi của quốc gia khác để tăng cường khả năng miễn dịch của chính mình.

Ví dụ, Trung Quốc dung thứ cho các tập đoàn lừa đảo gây họa cho người nước ngoài tương đương với việc dẫn chất độc tội phạm ra môi trường bên ngoài để đổi lấy không gian mạng và trật tự tài chính tương đối “sạch” trong nước, từ đó bảo vệ sự ổn định của hệ thống. Những ngành nghề xám này thường đóng đô ở các vùng biên giới chủ quyền như Ko Kang (Myanmar), Sihanoukville (Campuchia) — những nơi nằm ở vùng biên hoặc có sự quản lý nhập nhằng, bị cố ý nhào nặn thành các vùng lỗ hổng giám sát pháp luật.

Tại những không gian này, các quy tắc chủ quyền truyền thống bị đình chỉ, cái gọi là “trạng thái ngoại lệ” (state of exception) xuất hiện, luật pháp tại đây mất hiệu lực, con người trở thành những “mạng sống trần trụi” (bare life) không được pháp luật bảo vệ, phó mặc cho cường quyền định đoạt. Những vùng đất xám “trật tự không chủ quyền” này bề ngoài không thuộc sự quản lý của bất kỳ quốc gia nào, thực chất lại do các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia cai trị, mà đằng sau tổ chức tội phạm lại ẩn chứa bóng dáng của các quốc gia độc tài.

Đối mặt với sự tiến bộ không ngừng của các công nghệ kỹ thuật số như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, các quốc gia độc tài đang liên tục đổi mới phương thức tội phạm có tổ chức và đưa các hoạt động này vào công cụ chiến lược, tầm quan trọng có thể sánh ngang với các cơ quan tình báo hoặc bên đại diện. Họ thậm chí còn sử dụng truyền thông mới và các nền tảng mạng xã hội để che giấu danh tính, thực hiện nhiệm vụ. Do đó, Đài Loan phải cảnh giác với những thách thức mang lại từ chiến lược cai trị xám trong vận hành quyền lực.

Thang Danh Huy
(Bài viết chỉ đại diện cho lập trường và quan điểm cá nhân của tác giả, được sự cho phép của “Thượng Báo” để “Vision Times” đăng tải lại.)