Làng Phú Thị có tên nôm là làng Sủi, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đây là ngôi làng khoa bảng nổi tiếng với nhiều vị Thượng thư, vì thế mà người thời đó câu: “Chung linh đất Sủi ai bì; Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh”. Làng có 10 vị đỗ đại khoa, trong đó riêng dòng họ Nguyễn Huy đã có 5 người.

Chuyện tiến sĩ Trần Thế Vinh được bà hàng nước báo trước đỗ đại khoa
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, báo Bình Phước Online)

Thế đất Mộc Tinh

Giải thích cho việc dòng họ Nguyễn Huy nhiều người đỗ đạt, người làng có giai thoại rằng cụ tổ thứ hai của dòng họ là Nguyễn Đức Hữu có ba người con trai tên là Đôn Thận, Đôn Tập và Siêu Lang.

Trước khi cụ Nguyễn Đức Hữu mất đã dặn các con nghe theo lời thầy dịa lý, chôn mình ở khu đất hình Mộc tinh ở xứ Mả Cả, sát một vũng trâu đằm.

Các con làm theo, nhưng được hơn nửa tháng thì trong nhà có nhiều người bị bệnh. Cả nhà nghĩ rằng ngôi mộ bị động nên có ý dời đi nơi khác. Tuy nhiên khi đang chuẩn bị di dời thì gặp mưa to nên họ không thể làm tiếp, lại nghe tiếng trẻ mục đồng rằng: “Biết đâu đã hẳn hơn đâu; Có chốn thì cầu, có chốn thì vong”. Vậy là các con cụ Đức Hữu liền thôi không chuyển mộ nữa.

Sau đó 3 anh em Đôn Thận, Đôn Tập, Siêu Lang sinh được con trai lần lượt là Nguyễn Huy Nhuận, Nguyễn Huy Mãn, Nguyễn Huy Thuật. Cả 3 người này đều đỗ tiến sĩ.

Dòng họ cho rằng đó là nhờ phúc của ngôi mộ, nên ghi vào trong gia phả rằng: “Họ ta được hiển đạt tiếp phúc nhờ ngôi mộ này”.

Nguyễn Huy Nhuận

Người đầu tiên đỗ đạt của dòng họ cũng là người đỗ khai khoa cho làng Sủi là Nguyễn Huy Nhuận. Ông đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1793 đời vua Lê Hy Tông.

Năm 1723, ông được tin tưởng cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, ông được thăng làm Tả thị lang Hình bộ.

Những lúc rảnh rỗi, Nguyễn Huy Nhuận mở lớp dạy cho hàng trăm học trò. Con cháu và người làng nhờ học với ông mà đỗ đại khoa. Ngoài ra còn có học trò ở làng Bát Tràng cũng nhờ học với ông mà thi đỗ.

Bấy giờ nhà Thanh chiếm giữ một số vùng đất trái phép ở biên giới nước ta, do ham nguồn lợi lớn từ mỏ đồng Tụ Long. Sau một thời gian dài nước ta dùng ngoại giao đòi lại các vùng đất bị nhà Thanh chiếm giữ trái phép, năm 1728, nhà Thanh phải đồng ý trả lại 40 dặm đất (20 km) ở biên giới. Mốc biên giới được xác định là ở phía nam sông Đổ Chú. Triều đình cử Nguyễn Huy Nhuận và Nguyễn Công Thái đến nhận lại đất.

Hai ông đến nơi, thấy nhà Thanh đã chuẩn bị sẵn cột mốc biên giới ở phía nam sông Đổ Chú. Nhưng Nguyễn Huy Nhuận thấy mỏ Tụ Long vẫn nằm ở đất nhà Thanh, vì thế mà ông nghi ngờ nhà Thanh cho cắm sai vị trí.

Huy Nhuận bàn với Nguyễn Công Thái xem lại bản bàn giao đất đai, dò tìm bản đồ thì thấy vị trí sông Đổ Chú khác với sông mà quan lại nhà Thanh nói. Sau đó hai ông lại đàm phán lại với nhà Thanh cắm lại đúng mốc biên giới, nhờ đó mà mỏ đồng Tụ Long được trở về cho Triều đình.

Sau công trạng này, Nguễn Huy Nhuận giữ chức Thượng thư lần lượt cả 5 bộ, rồi được cử làm Tham tụng tức Tể tướng đầu triều.

Năm 1743 Nguyễn Huy Nhuận 66 tuổi và xin được nghỉ hưu do tuổi cao, Triều đình đồng ý cho ông nghỉ.

Thế nhưng Đàng Ngoài của nhà Lê – Trịnh lúc này chẳng yên, nhiều cuộc khởi nghĩa từ thời chúa Trịnh Giang vẫn nổ ra.

Năm 1745, chúa Trịnh Doanh phải mời Nguyễn Huy Nhuận trở lại Triều chính, nắm cả quân đội lẫn hành chính thêm một thời gian nữa.

Nguyễn Huy Mãn

Người thứ hai của dòng họ đỗ đạt là Nguyễn Huy Mãn. Ông nổi tiếng thông minh, theo học với anh họ Nguyễn Huy Nhuận, đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1721 khi 34 tuổi.

Ông nhậm chức Ngự sử đài, sau làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, Tự khanh. Ông còn dành thời gian dạy học cho hơn một nghìn học trò, trong số đó có nhiều người đỗ đạt, nổi bật nhất là Nguyễn Nghiễm người làng Tiên điền làm quan đến Tể tướng và là cha của nhà thơ Nguyễn Du.

Nguyễn Huy Thuật và con cháu

Người thứ ba đỗ đạt là Nguyễn Huy Thuật, đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1733, giữ chức Đề hình, sau được thăng làm Giám sát Ngự sử.

Con trai của ông là Nguyễn Huy Dận đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1748 nhậm chức nhậm chức Hàn lâm viện Đãi chế, Đông các hiệu thư.

Nguyễn Huy Dận có người con trai là Nguyển Huy Cận nổi tiếng thần đồng khắp vùng, lớn lên thì dung mạo khôi ngô, cử chỉ nho nhã, theo học với ông là Nguyễn Huy Nhuận.

Năm 1750, Huy Cận 22 tuổi đỗ kỳ thi Hương. Năm 29 tuổi, ông dự khoa thi Hoành từ và đỗ cao thứ hai, được bổ nhiệm làm Tri phủ Lạng Giang. Ông làm quan nhân từ, không bao giờ dùng roi vọt nhục hình với dân chúng. Lúc nhàn rỗi ông dạy học cho đám trẻ, thời gian còn lại thì đọc sách Thánh Hiền.

Năm 1760 đời vua Lê Hiển Tông, Huy Cận tham gia kỳ thi Hội và đỗ đầu tức Hội nguyên. Vào đến thi Đình ông vẫn làm bài rất tốt, nhưng vì trình bày sai quy định nên ông chỉ được chấm đỗ đồng tiến sĩ.

Sau khi thi đỗ, Nguyễn Huy Cận được bổ nhiệm làm quan. Nhưng ông chán cảnh quan trường ở Triều đinh vì không thấy giúp được gì nhiều cho dân nên cố từ quan xin về lại quê nhà.

Về quê nhà, ông đọc sách Thánh Hiền và làm thơ ca, mở trường dạy học. Khi cha ông Nguyễn Huy Dận nghỉ hưu, hai cha con thường cùng làm thơ xướng họa rất tâm đắc.

Chúa Trịnh nghe danh ông nên nhiều lần xuống chiếu chỉ mời ông làm quan nhưng ông đều từ chối. Nhiều học trò của ông đỗ đạt và làm quan cho Triều đình.

Khi nhà Tây Sơn đánh bại chúa Trịnh có mời ông ra làm quan, nhưng ông cũng từ chối.

Nguyễn Huy Cận đã làm thơ về dòng họ mình như sau:

Triều đình sáu bộ Thượng thư
Làng ta được bốn, từ xưa mấy làng?
Bầu hoa chén rượu cúc vàng
Ba quan hưu trí cẩm đường tiêu dao
Rừng nho nối gót vân tiêu
Trâm anh lần lượt biết bao nhiêu người.

Hàng năm, làng Sủi tổ chức lễ hội từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 3. Trong lễ hội này có tổ chức đọc nhiều bài thơ của Nguyễn Huy Cận ca ngợi cảnh đẹp và truyền thống khoa bảng của làng.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: