Nguyễn Văn Lý: Người soạn văn bia Thọ Xương
- Trần Hưng
- •
Cố gắng khôi phục văn hóa giáo dục Hà Nội, can gián Vua trước họa xâm lăng của người Pháp, Nguyễn Văn Lý xứng là kẻ sĩ Bắc hà một thời.
Xuất thân
Họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn (nay thuộc Thanh Hóa) vốn là dòng họ trâm anh thế phiệt, nhưng đến cuối đời vua Lê Thánh Tông thì có một chi họ chuyển đến làng Đông Tác, huyện Thọ Xương (nay là phường Kim Liên, Hà Nội).
Ở làng Đông Tác, dòng họ có một số người thành danh. Nguyễn Hy Quang đỗ khoa thi năm 1673, được tuyển vào Phủ chúa dạy dỗ cho con cháu chúa Trịnh, trong đó có Thế tử Trịnh Bính. Nguyễn Trù đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1697, làm quan đến Hữu Thị lang bộ Hình và Tế tửu Quốc Tử Giám.
Cháu nội của Nguyễn Trù là Nguyễn Hữu Vọng được phong tước Lương Vũ bá. Năm 1795, vợ chồng Nguyễn Hữu Vọng sinh được người con trai ở làng Đông Tác, đặt tên là Nguyễn Văn Lý.
Vượt qua khó khăn, đỗ đạt
Sinh ra trong gia tộc có truyền thống thi thư, từ nhỏ Nguyễn Văn Lý đã được kèm cặp dạy dỗ.
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vua lập ra nhà Nguyễn. Họ Nguyễn ở làng Đông Tác vốn nhiều đời theo nhà Lê nên không còn được như trước. Nhà Nguyễn lại dời đô đến Phú Xuân (Huế), Thăng Long không còn là Kinh đô và được đổi tên thành Bắc Thành. Họ Nguyễn ở làng Đông Tác cũng vì thế mà sa sút đến thành nghèo khó.
Dù gia cảnh không được như trước nhưng Nguyễn Văn Lý vẫn cố gắng đèn sách. Ông là người con hiếu thảo, khi mẹ bị bệnh nặng, ông kê chiếc giường nhỏ đến cạnh mẹ để có thể vừa học vừa cận kề chăm sóc mẹ được chu đáo.
Năm 1818, lần lượt mẹ và cha Nguyễn Văn Lý đều qua đời, gia cảnh càng thêm khó khăn. Sau này Nguyễn Văn Lý viết trong tự truyện rằng: “Chỉ trong vòng có một năm mà gia đình có đến hai biến cố lớn, gia sản tổ tiên để lại có 4 mẫu ruộng bạc điền đã bán hết để lo việc tang”.
Để có tiền cho gia đình, Nguyễn Văn Lý phải đi dạy học, vì thế mà việc học hành của ông cũng bị chậm lại.
Năm 1822, Nguyễn Văn Lý 27 tuổi kết hôn với con gái một quan Tri phủ. Sau đó ông dự kỳ thi Hương nhưng chỉ vượt qua được nhị trường.
Nhận thấy không đỗ là vì chưa có thầy giỏi, ông tìm theo học với thầy Phạm Quý Thích. Khoa thi sau tổ chức năm 1825, ông đỗ cử nhân hạng ưu.
Sau khi thầy Phạm Quý Thích qua đời, 2 kỳ thi Hội liên tiếp Nguyễn Văn Lý dự thi mà không đỗ được. Phải đến khoa thi năm 1832, ông mới đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân.
Thi đỗ, Nguyễn Văn Lý được bổ nhiệm làm quan qua các chức vụ khác nhau.
Làm quan nhân nghĩa, dân chúng đội ơn
Nguyễn Văn Lý là vị quan nhân nghĩa, luôn tìm cách giúp đỡ dân chúng.
Khi làm quan ở Phú Yên, ông dâng sớ xin miễn đi lính cho 7 người con cháu thuộc triều Lê trước, xin giảm tội cho 10 người bị nhận án tử hình, giúp cho họ khai hoang đất đai để lấy công chuộc tội.
Ông cũng xin hoãn thuế 3 năm cho dân chúng, thả các tù nhân người Man cho về quê quán.
Khi người Hoa đến lập làng, ông chu cấp giúp đỡ, hình thành các làng Minh Hương.
Nhiều oan khuất cũng được Nguyễn Văn Lý giải quyết.
Người dân Phú Yên và người Hoa đội ơn mang rất nhiều vàng bạc đến nhưng ông đều tội chối hết không nhận.
Người soạn văn bia Thọ Xương
Lúc này, sau một thời gian Thăng Long Hà Nội không còn là Kinh đô, văn hóa giáo dục dần dần xuống cấp. Vì vậy, tiến sĩ khoa bảng Vũ Tông Phan gặp những danh sĩ khác, quyết phục hưng văn hóa giáo dục Hà Nội. Nguyễn Văn Lý ở trong nhóm này, góp phần chấn hưng văn hóa.
Năm 1836, Vũ Tông Phan cùng Nguyễn Văn Lý và nhóm của mình quyết định xây dựng Văn chỉ Thọ Xương thờ Khổng Tử cùng các vị tiên hiền Nho học, các vị khoa bảng góp công xây dựng văn hóa lịch sử Thăng Long, giúp dân chúng ôn lại truyền thống văn hóa.
Nguyễn Văn Lý vinh dự được chọn là người soạn văn bia “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký”. Văn bia này có đoạn như sau:
“Trên thì noi theo phong độ và ý chí của tiên hiền, dưới thì khuyến khích thế hệ mai sau trau dồi tiến tới. Trong phạm vi hẹp thì trở thành các vị quân tử trong làng, các vị thầy trong xã. Mở rộng ra sẽ là tôn chúa giúp dân.”
Chấn hưng văn hóa giáo dục
Năm 1848, Nguyễn Văn Lý xin từ quan một thời gian để về Hà Nội cùng nhóm danh sĩ đẩy mạnh khôi phục văn hóa giáo dục. Ông mở trường Chí Đình ven hồ Hoàn Kiếm. Tiêu chí của ông là mở trường đào tạo ra bậc hiền tài cho Giang Sơn Xã Tắc chứ không chỉ đỗ đạt làm quan. Nhiều sĩ tử làm rạng danh cho ngôi trường của ông, tiêu biểu là tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp người Kim Lũ làm đến Thượng thư bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chính vua Thành Thái.
Nguyễn Văn Lý cùng với Vũ Tông Phan và hội Hướng Thiện cải tạo chùa Ngọc Sơn thành đền Văn Xương, rồi chọn nơi đây làm trụ sở cho hội Hướng Thiện, sau này gọi là đền Ngọc Sơn.
Khi Triều đình gọi Nguyễn Văn Lý đến Huế nhậm chức, hội trưởng hội Hướng Thiện là Vũ Tông Phan và sau này là Nguyễn Văn Siêu tiếp tục gánh vác trách nhiệm, xây dựng phía Bắc của Hồ Gươm thành quần thể văn hóa giữa lòng Thăng Long – Hà Nội.
Là người chú trọng giáo dục, ông sưu tầm và biên soạn bộ Thế phả dày 418 trang, viết Tự gia yếu ngữ, Đông Tác Nguyễn thị Gia huấn để dạy con cháu.
Năm 1858, Liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Văn Lý dâng lên kế sách đánh Tây. Khi vua Tự Đức ký nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam bộ, ông cũng can ngăn.
Năm 1868, Nguyễn Văn Lý mất, thọ 74 tuổi. Con cháu đều nối tiếp chí hướng của ông. Con trai là Nguyễn Hữu Quý đỗ cử nhân. Cháu nội là Nguyễn Hữu Cầu đỗ cử nhân, tham gia thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:































