Vài nét về thành Tây Đô – Kinh đô thời nhà Hồ
- Trần Hưng
- •
Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Đô (còn gọi là Thành nhà Hồ) ở An Tôn nhằm dời đô từ Thăng Long đến đây. Vì thế vùng đất An Tôn trở thành Kinh đô mới của nước ta.
Hồ Quý Ly xây dựng Tây Đô
Năm 1397, Hồ Quý Ly làm Thái Sư, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, giữ chức Bình chương phụ chính, nắm mọi quyền hành trong tay. Hồ Quý Ly muốn dời Kinh đô về Thanh Hóa nhằm chuẩn bị lên ngôi, những ai biết ý định này và phản đối việc dời đô đều bị diệt.
Sau khi định được việc dời đô, Hồ Quý Ly chú ý đến phong thủy ở An Tôn.
Động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) có vị trí “sơn phong bát diện, lưỡng thủy hội đường”, tức bốn phía có núi non bao bọc, có 2 dòng nước tụ lại phía trước làm minh đường. Phía đông nam nơi đây là núi Đốn Sơn làm tiền án, phía tây bắc lại có núi Song Tượng chầu vào, phía tây – tây nam có 6 ngọn núi đá ở khu động An Tôn. Đây là đất “long xà tương ngộ, thạch bàn tác ấn”. Xem xét vị trí thành Tây Đô, long mạch đổ xuống Vân Nam, qua Sơn La thì chạy dọc theo sông Mã đến núi Tượng là dừng. Sông mã chạy uốn khúc trước khi hội với sông Bưởi, hai con sông khép lại tạo khí mạch cho thành Tây Đô.
Hồ Quý Ly vì thế mà quyết định chọn nơi đây xây thành.
Thế nhưng long mạch nơi đây khi xuống đồng bằng lại phân tán, các sống núi chia thành các nhánh hướng thẳng vào thành, trong phong thủy gọi đây là “kiếp long”, tức hung địa.
Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết đã khuyên can Hồ Quý Ly không nên xây thành, vì vị trí xây thành ở An Tôn là chỉ “hợp với loạn mà không hợp với trị”, cuối cùng nhắn nhủ với Hồ Quý Ly rằng: “Cốt ở đức chứ không cốt ở hiểm”, tức chống giặc cần dựa vào “đức” làm gốc chứ không phải chỉ dựa vào nơi hiểm yếu.
Tuy nhiên tình thế ngoại giao bấy giờ với nhà Minh và Chiêm Thành đều không tốt. Nhà Minh lăm le muốn đưa quân sang, mặt khác Hồ Quý Ly muốn nhanh chóng lên ngôi nên không nghe theo mà còn khép tội Nguyễn Nhữ Thuyết.
Hồ Quý Ly huy động thợ giỏi và nhân lực đến nhằm nhanh chóng hoàn tất việc xây thành. Ngày nay những gì còn lại là những phiến đá rất lớn.
Nếu thành Thăng Long mềm mại uyển chuyển với gỗ lim, đá ngói, thì thành Tây Đô hiện lên sừng sững, uy nghiêm bằng đá. Những phiến đá khổng lồ được đẽo gọt vuông vức, xếp chồng lên nhau theo kỹ thuật “xếp khô” (không dùng chất kết dính) vẫn đứng vững sau hơn 6 thế kỷ. Qua thời gian, đến nay phần kiến trúc bên trong thành đã bị hủy hoại, vùi lấp hết, song 4 bức tường thành – biểu tượng của Thành Nhà Hồ – vẫn giữ tương đối nguyên vẹn kiến trúc ban đầu.
Không có tài liệu nào lưu lại về kỹ thuật xây thành để các nhà nghiên cứu tìm hiểu.
Nhiều thợ đá tài hoa được đưa đến nơi đây để dựng thành, vì thế mà có câu ca dao còn lưu truyền đến nay:
Mồng một anh hát với cồ,
Mồng hai anh lại thành Hồ anh xây,
Mồng ba anh hát ở đây,
Mồng bốn anh lại đi xây thành Hồ…
Thành mới được đặt tên là thành Tây Đô nhằm phân biệt với Đông Đô (tức Kinh đô Thăng Long cũ). Hồ Quý Lý sau khi dời đến Tây Đô thì lên ngôi vào năm 1400.
Kinh đô mới sầm uất
Kinh thành mới được xây dựng, thu hút hàng vạn người thuộc các giới quý tộc, quan lại, thương nhân, thợ thủ công đến đây sinh sống. Vùng đất An Tôn cũng nhanh chóng thay da đổi thịt, hình thành các phố chợ, làng nghề quanh Kinh thành.
Khu vực An Tôn trở nên rất nhộn nhịp với nhiều cửa hiệu buôn bán, phố phường sầm uất. Xung quanh thành là hàng chục ngôi làng truyền thống như làng Xuân Giai, Tây Giai, Đông Môn, Thổ Phụ, Phương Giai…
Nhà Hồ đã cho xây dựng phố Hoa Nhai, là phố chính chạy từ cổng Nam thành đến chân núi Đún. Các phường trung tâm là Hành, Thị, Chác, Bãi Chợ, Hồ Me, Vạn Ninh, Lan Giai.
Chợ lớn nhất là chợ Tây Đô nằm ở phường Lan Giai, phía cổng Tây thành. Việc lập chợ mới mua bán thuận lợi đã thu hút rất nhiều thợ thủ công và thương lái đến làm ăn sinh sống.
Có phố, có chợ lớn, phường Lan Giai trở thành nơi sầm uất nhất Kinh thành. Quan lại nhà Hồ cũng chọn sinh sống ở đây. Đường phố được lát đá từ cửa Tây thành ra đến tận bờ sông Mã, nơi có bến ngự.
Kinh đô mới có đình và chùa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của dân chúng. Đình Đông Môn cách cổng phía đông của thành 150 mét, là ngôi đình lớn có giá trị nghệ thuật cao, đến nay vẫn còn giữ nhiều di tích liên quan đến Thành nhà Hồ. Có 2 ngôi chùa chính là chùa Giá cách Thành nhà Hồ 2,5 km về hướng đông nam, chùa Du Anh cách thành 4,5 km.
Tồn tại ngắn ngủi
Dù xây dựng được Kinh đô mới sầm uất, nhưng nhà Hồ chỉ tồn tại 7 năm ngắn ngủi. Tây Đô cũng chỉ tồn tại được 10 năm. Vào năm 1407, quân Minh chiếm thành nhà Hồ và bắt được cha con Hồ Quý Ly.
Nhà Hồ mất, nhà Minh áp đặt chế độ đô hộ với Giao Chỉ, phố phường nhội nhịp ở Tây Đô cũng không còn. Những thợ thủ công, dân buôn bán và giới nhà giàu bỏ đi nơi khác để tránh bị cướp bóc, chỉ còn người nông dân ở lại bám ruộng đồng. Phố Hoa Nhai sầm uất chuyển dịch dần thành làng Xuân Nhai thuần nông.
Sau 6 năm đệ trình hồ sơ, đến năm 2011, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới dựa trên các tiêu chí về giá trị lịch sử, kiến trúc và giao thoa văn hóa. Chương trình CNN đánh giá Thành nhà Hồ là một trong 21 di sản nổi bật của thế giới.
Ngày nay Thành nhà Hồ là một điểm đến văn hóa du lịch. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc đá độc đáo, những tảng đá được đẽo gọi xếp chồng khít lên nhau, tạo thành những bức tường đá vững chắc mà không dùng chất kết dính.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa thành nhà Hồ

































