Điều này quả thực đã chạm đúng vào cốt lõi vấn đề.
ĐCSTQ là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc cũng như trên thế giới. Ngay cả trong số các quốc gia xã hội chủ nghĩa, đây cũng là điều rất hiếm thấy: vấn đề kế nhiệm nhà lãnh đạo tối cao chưa bao giờ được giải quyết một cách có hệ thống.
Dưới thời Mao Trạch Đông, lời nói của ông có sức nặng tuyệt đối, nên chuyện người kế nhiệm gần như không đến lượt người khác bàn luận. Trong số các lãnh đạo ĐCSTQ, dường như chỉ Mao Trạch Đông từng có ý định truyền quyền lực cho con trai. Ông cho con trai Mao Ngạn Anh, người trở về từ Liên Xô, xuống nông thôn tham gia cải cách ruộng đất, đến làm việc tại các phân xưởng nhà máy, rồi sang Triều Tiên để rèn luyện trong quân đội. Mặc dù các cây bút phục vụ ĐCSTQ phủ nhận điều này, nhưng giả thuyết “kế nhiệm” thực sự là cách giải thích hợp lý nhất. Không ngờ rằng khi tới chiến trường Triều Tiên, ngay cả việc ở lại làm việc tại sở chỉ huy cũng không giúp ông tránh được cuộc không kích của lực lượng Liên Hợp Quốc.
Những người từng được Mao chính thức chỉ định làm người kế nhiệm gồm Lâm Bưu và Hoa Quốc Phong. Lâm Bưu là người kế nhiệm duy nhất từng được quy định trong điều lệ đảng, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi số phận bị chính Mao thanh trừng.
Ba nhân vật khác từng được xem là những người kế nhiệm gồm Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Vương Hồng Văn. Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đều bị Mao trực tiếp hạ bệ, còn Vương Hồng Văn bị từ bỏ. Chỉ có Hoa Quốc Phong được xem là người thực sự chính thức tiếp nhận quyền lực, dù thời gian tại vị chỉ kéo dài 4 năm.
Việc Hoa Quốc Phong trao lại quyền lực diễn ra tương đối suôn sẻ và hòa bình. Bản thân ông cũng có thể được xem là một trong số ít lãnh đạo ĐCSTQ có kết cục tương đối yên ổn sau khi rời quyền lực. Nguyên nhân chủ yếu có lẽ là vì thực lực của ông chênh lệch quá lớn so với Đặng Tiểu Bình, khiến ông không đủ khả năng trở thành đối thủ. Nhìn theo cách này, ngay cả người kế nhiệm do Mao Trạch Đông — một nhà độc tài tuyệt đối — chỉ định cũng không thực sự kế nhiệm được quyền lực một cách trọn vẹn.
Đặng Tiểu Bình hiểu rõ cuộc khủng hoảng người kế nhiệm có thể gây nguy hại cho chính quyền ĐCSTQ và muốn thể chế hóa việc kế nhiệm. Tuy nhiên, trước khi quá trình thể chế hóa diễn ra, chính ông lại tạo ra một cuộc khủng hoảng khi phế truất hai Tổng Bí thư mà ông chỉ định là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, rồi khẩn cấp đưa Giang Trạch Dân, người vốn đang chuẩn bị nghỉ hưu, lên nắm quyền.
Sau đó, ông bắt đầu triển khai giải pháp của mình, được gọi là “chỉ định cách thế hệ”. Nói đơn giản, nhà lãnh đạo đảng đồng thời giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Chủ tịch nước, một người nắm cả ba vị trí cao nhất trong đảng, chính quyền và quân đội. Nhiệm kỳ kéo dài hai khóa, nhưng bản thân nhà lãnh đạo đương nhiệm không được tự chỉ định người kế nhiệm. Thay vào đó, người kế nhiệm được chỉ định bởi lãnh đạo đảng tiền nhiệm hoặc các nguyên lão.
Người được lựa chọn sẽ bước vào Thường vụ Bộ Chính trị khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của lãnh đạo đương nhiệm, đồng thời đảm nhiệm các vị trí như Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Phó Chủ tịch nước để tích lũy kinh nghiệm và uy tín.
Hồ Cẩm Đào và người kế nhiệm ông là Tập Cận Bình đều tuân theo mô hình này. Đây là giai đoạn tương đối ổn định trong việc chuyển giao quyền lực của các lãnh đạo ĐCSTQ, nhưng trên thực tế, mô hình này chỉ duy trì được qua hai thế hệ lãnh đạo.
Dù là những lần sắp xếp người kế nhiệm dưới thời Mao Trạch Đông hay nỗ lực thể chế hóa quá trình chuyển giao quyền lực của Đặng Tiểu Bình sau này, tất cả đều cho thấy rằng trong một hệ thống mà quyền lực tối cao thiếu cơ chế trao quyền công khai, mọi sự sắp xếp kế nhiệm đều rất khó hoàn toàn thoát khỏi ý chí cá nhân và tương quan quyền lực nội bộ.
Sau thời Đặng Tiểu Bình, ĐCSTQ từng sử dụng nhiệm kỳ, giới hạn độ tuổi và việc bố trí chức vụ để tạm thời đưa vấn đề này tiến thêm một bước theo hướng thể chế hóa. Tuy nhiên, đến thời Tập Cận Bình, thông lệ mới hình thành chưa lâu này lại dần bị suy yếu.
Quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình càng tập trung, vấn đề kế nhiệm càng trở nên khó xử lý. Một khi ai đó có khả năng trở thành người kế nhiệm, người đó có thể trở thành đối tượng bị đề phòng; nhưng nếu một người thể hiện quá kín đáo, họ lại có thể không có đủ thâm niên chính trị và uy tín để gánh vác tình hình trong tương lai.
Hoành Hà gọi mâu thuẫn này là “cuộc khủng hoảng người kế nhiệm của ĐCSTQ”. Những quy tắc chuyển giao quyền lực từng được duy trì một cách miễn cưỡng trong quá khứ đang dần mất đi tác dụng.
Một thể chế mà không ai có thể nhìn rõ tương lai thì điều đầu tiên thay đổi sẽ là hành vi của các quan chức cấp trung và cấp thấp. Các quan chức sẽ cho rằng cách an toàn nhất là trước hết phải tự bảo vệ mình: ít phạm sai lầm, ít phát biểu, ít đứng ra chịu trách nhiệm; việc gì cần xin chỉ thị thì xin nhiều hơn, việc gì cần quan sát thì cứ tạm thời đứng ngoài chờ đợi.
Ngay cả những người có năng lực và có ý tưởng cũng chưa chắc sẵn sàng gánh chịu rủi ro từ cải cách và ra quyết định. Xét cho cùng, phán đoán về chiều hướng chính trị ở tầng lãnh đạo cao nhất quyết định sự phát triển trong con đường quan lộ của mỗi cá nhân.
Đây chính là cái giá sâu xa do cơ chế kế nhiệm không rõ ràng gây ra. Toàn bộ hệ thống quan liêu mất đi kỳ vọng ổn định về tương lai. Chính sách dễ chỉ tập trung vào lợi ích trước mắt; tất cả mọi người đều dồn sự chú ý vào việc “không được đứng nhầm phe”.