Mỹ cuối cùng vẫn không mua Greenland. Nếu chỉ nhìn dưới góc độ một thương vụ bất động sản, đây dường như là một cuộc mua bán không đi đến đâu: chủ quyền đối với Greenland vẫn thuộc Vương quốc Đan Mạch, Greenland vẫn duy trì quyền tự trị cao và quyền tự quyết định địa vị của mình trong tương lai; quốc kỳ Mỹ vì thế cũng không thể phủ kín hòn đảo lớn nhất thế giới này.

Thành phố Nuuk – thủ đô của Greenland. (Ảnh: Shutterstock)

Nhưng chiến lược quốc tế chưa bao giờ đơn thuần là một giao dịch bất động sản. Điều thực sự đáng đặt câu hỏi là: Tại sao Mỹ cần Greenland? Nếu mục tiêu chủ yếu không phải là sở hữu thêm hơn 2 triệu km² lãnh thổ, mà là an ninh Bắc Cực, cảnh báo tên lửa, triển khai quân sự và ngăn Nga cùng Trung Quốc giành được chỗ đứng chiến lược, thì thỏa thuận vừa đạt được lại có thể né qua vấn đề khó khăn nhất là quyền sở hữu, đồng thời trực tiếp giải quyết điều Mỹ quan tâm nhất.

Theo những nội dung được công bố hiện nay, Mỹ có thể mở rộng lâu dài sự hiện diện quân sự tại Greenland, đồng thời có các quyền tiếp cận, xây dựng căn cứ và sử dụng không phận. Các quốc gia không thuộc NATO sẽ không được xây dựng căn cứ quân sự tại đây, trong khi những khoản đầu tư nhạy cảm của các đối thủ của Mỹ cũng có thể bị hạn chế. Thỏa thuận không có thời hạn chấm dứt. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho rằng thỏa thuận này giải quyết các quan ngại về an ninh quốc gia của Washington. Tuy nhiên, Mỹ cuối cùng sẽ bổ sung bao nhiêu căn cứ và triển khai bao nhiêu binh sĩ vẫn chưa được xác định.

Điều này tạo ra một kết quả khá thú vị: Đan Mạch giữ chủ quyền, còn Mỹ có được những bảo đảm về an ninh mà Washington quan tâm.

Chủ quyền và quyền kiểm soát vốn không phải là một. Một vùng đất thuộc về ai là vấn đề pháp lý; ai có thể triển khai lực lượng quân sự tại đó, ai có quyền bay qua, ai có thể xây dựng căn cứ và ai có thể ngăn đối thủ tiềm tàng xâm nhập lại là vấn đề chiến lược.

Nếu Mỹ có thể lâu dài bảo đảm rằng Nga, Trung Quốc và các đối thủ khác không thể thiết lập hiện diện quân sự tại Greenland, trong khi Washington vẫn có thể tăng cường triển khai khi cần thiết, thì xét từ góc độ phòng thủ Bắc Mỹ, việc tên ai được ghi trên “giấy chứng nhận quyền sở hữu” lại trở thành vấn đề thứ yếu.

Quan trọng hơn cả là vị trí địa lý

Nhìn trên bản đồ sẽ thấy Greenland không phải là một vùng đất Bắc Cực bình thường. Hòn đảo nằm giữa Bắc Mỹ và châu Âu, đồng thời nằm gần tuyến đường Bắc Cực từ hướng Nga tiến vào Bắc Mỹ.

Căn cứ Vũ trụ Pituffik của Mỹ hiện là một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh báo tên lửa, giám sát không gian và phòng thủ Bắc Mỹ. Mỹ đã duy trì các hoạt động an ninh tại Greenland từ Thế chiến II; thỏa thuận quốc phòng Mỹ – Đan Mạch năm 1951 đã đặt nền tảng pháp lý cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại đây. Vì vậy, thỏa thuận mới không phải là lần đầu tiên Mỹ hiện diện tại Greenland, mà là bước mở rộng các cơ chế hiện có theo hướng rộng hơn và lâu dài hơn.

Do đó, điều đáng chú ý thực sự trong thỏa thuận này không phải là “Mỹ cuối cùng đã có được Greenland”, mà là một câu khác:

Mỹ không có được Greenland, nhưng có thể đã có được phần có giá trị chiến lược nhất của Greenland đối với Mỹ.

Điều này thậm chí có thể có lợi hơn việc mua đứt hòn đảo.

Mua lãnh thổ đồng nghĩa với điều gì? Mỹ phải đàm phán về giá cả, xử lý ý nguyện chính trị của người dân Greenland, đối mặt với các vấn đề pháp lý trong nội bộ Đan Mạch, đồng thời phải gánh trách nhiệm quản lý, xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công.

Nếu Mỹ thực sự tiếp nhận một vùng lãnh thổ có khoảng 56.000 dân, diện tích khổng lồ và môi trường tự nhiên khắc nghiệt, Washington sẽ có được lợi ích chiến lược nhưng đồng thời cũng phải gánh thêm hàng loạt trách nhiệm không mang tính chiến lược.

Cấu trúc hiện tại lại đơn giản hơn nhiều.

Quyền quản lý hành chính vẫn thuộc về bạn, các vấn đề xã hội vẫn thuộc về bạn, người dân vẫn là người dân của bạn; còn điều Mỹ quan tâm là an ninh Bắc Mỹ. Khi cần căn cứ, Mỹ có thể tăng cường hiện diện; khi cần sử dụng không phận, Mỹ có thể sử dụng; còn nếu các đối thủ muốn đưa lực lượng quân sự hoặc các khoản đầu tư nhạy cảm vào Greenland thì sẽ phải đối mặt với những hạn chế mang tính thể chế.

Điều này giống như không mua cả tòa nhà nhưng có được quyền sử dụng lâu dài tầng mà mình cần, đồng thời hợp đồng còn quy định đối thủ không được phép chuyển vào.

Tất nhiên, hiện vẫn chưa thể khẳng định quá mức về thỏa thuận này. Toàn văn vẫn chưa được công bố. “Quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với an ninh và các nhu cầu khác” mà ông Trump đề cập cuối cùng sẽ bao phủ đến mức nào về mặt pháp lý vẫn cần chờ văn bản chính thức. Thỏa thuận cũng còn phải trải qua các thủ tục phê chuẩn tại Đan Mạch và Greenland. Đặc biệt, cách định nghĩa “đầu tư nhạy cảm”, cách thức vận hành quyền phủ quyết của Mỹ và việc thỏa thuận có tiếp tục được duy trì nếu Greenland độc lập trong tương lai hay không đều sẽ ảnh hưởng đến giá trị thực tế của nó.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên khuôn khổ đã được công bố, cấu trúc của thỏa thuận khá rõ ràng.

Điều quan trọng nhất đối với Đan Mạch là: Greenland không bị lấy đi.

Điều quan trọng nhất đối với Greenland là: quyền tự trị và tự quyết không bị hủy bỏ.

Điều quan trọng nhất đối với Mỹ là: nhu cầu an ninh ở hướng Bắc Cực được thể chế hóa trong dài hạn, đồng thời không gian để các đối thủ tiến vào Greenland bị hạn chế.

3 bên không hoàn toàn có cùng nhu cầu, và chính vì vậy mới có khả năng đạt được một thỏa thuận mà mỗi bên đều nhận được điều mình quan tâm.

Đây cũng là một thực tế trong chính trị quốc tế rất dễ bị che khuất bởi câu hỏi “lãnh thổ thuộc về ai?”. Màu sắc trên bản đồ tất nhiên rất quan trọng, nhưng đối với một cường quốc quân sự, đôi khi điều quan trọng hơn màu sắc trên bản đồ là căn cứ nằm ở đâu, radar đặt ở đâu, máy bay có thể bay qua hay không, tàu chiến có thể đi vào hay không và đối thủ có thể tiến vào hay không.

Nếu văn bản chính thức cuối cùng xác nhận những điều khoản chủ yếu đang được công bố, Mỹ không nhất thiết phải tô Greenland thành màu của nước Mỹ trên bản đồ.

Bởi trong vấn đề an ninh quan trọng nhất, Washington có thể đã đạt được điều thực sự mình cần.