Hôm 13/8 Fox News đưa tin, một báo cáo do Ủy ban Đặc biệt của Hạ viện Mỹ về Cạnh tranh Chiến lược với Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) công bố cho biết, Đại học Harvard bị cho là chưa bảo đảm đầy đủ an ninh trong hoạt động hợp tác nghiên cứu với các tổ chức Trung Quốc, trong đó có các trường đại học có liên hệ với quân đội và ngành công nghiệp quốc phòng của ĐCSTQ.

Đại học Harvard (Ảnh: Zhong Chen / Shutterstock)

Theo nội dung mà Fox News Digital xem trước khi báo cáo được công bố, các nhà nghiên cứu liên quan đến Harvard đã cùng các nhà nghiên cứu tại một số trường đại học Trung Quốc đồng tác giả hơn 140 bài nghiên cứu.

Báo cáo đặc biệt đề cập đến nhóm “7 trường quốc phòng” của Trung Quốc. Các trường này được Bộ Chiến tranh Mỹ và các quan chức Mỹ khác đánh giá là đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nghiên cứu quốc phòng và quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc.

Ủy ban cho rằng cách thức quản lý an ninh nghiên cứu hiện nay của Harvard đã để lại khoảng trống cho một số hoạt động hợp tác có khả năng góp phần thúc đẩy công nghệ và năng lực quân sự của Trung Quốc.

Ngoài hoạt động hợp tác nghiên cứu, báo cáo cũng xem xét các khoản tiền giữa Harvard và Trung Quốc. Theo cơ chế công khai các khoản tài trợ nước ngoài quy định tại Điều 117 của Đạo luật Giáo dục Đại học Mỹ, Harvard được cho là đã nhận hơn 600 triệu USD từ Trung Quốc.

Báo cáo dẫn dữ liệu của Bộ Giáo dục Mỹ cho biết số tiền này cao hơn bất kỳ trường đại học nào khác tại Mỹ. Ủy ban cho rằng mối liên hệ tài chính giữa Harvard và Trung Quốc càng cho thấy sự cần thiết phải giám sát chặt chẽ hoạt động hợp tác nghiên cứu cũng như việc công khai nguồn tài trợ nước ngoài của trường.

Báo cáo chỉ ra rằng vấn đề này không chỉ xảy ra tại Harvard. Trong nhiều năm, các quan chức Mỹ đã cảnh báo rằng ĐCSTQ lợi dụng hợp tác học thuật và cơ hội tiếp cận các thành quả nghiên cứu của phương Tây để phát triển năng lực chiến lược trong lĩnh vực quân sự, giám sát và các lĩnh vực khác.

Báo cáo lấy một bài nghiên cứu công bố năm 2023 làm ví dụ. Bài nghiên cứu về robot phần mềm mô phỏng sinh học dùng cho hoạt động thăm dò biển sâu có một nhà nghiên cứu liên quan đến Harvard và một nhà nghiên cứu của Đại học Hàng không Vũ trụ Bắc Kinh đồng tác giả.

Đại học Hàng không Vũ trụ Bắc Kinh là một trong “7 trường quốc phòng” và đã nằm trong Danh sách thực thể (Entity List) của Bộ Thương mại Mỹ từ năm 2001.

Ủy ban cho rằng nghiên cứu này có thể có ứng dụng quân sự, trong đó có thăm dò dưới nước. Tuy nhiên, Văn phòng Tuân thủ Nghiên cứu của Harvard đã phân loại dự án này là nghiên cứu phi quân sự.

Báo cáo cũng cho biết năm 2023, các nhà nghiên cứu Harvard từng công bố một bài nghiên cứu chung với một nhà nghiên cứu của Đại học Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc. Trường này cũng nằm trong một danh sách hạn chế của Mỹ.

Nghiên cứu nói trên liên quan đến vật liệu từ tính, đồng thời bài báo ghi rõ dự án nhận được một phần tài trợ từ Văn phòng Nghiên cứu Lục quân Mỹ.

Sau khi xem xét các bài nghiên cứu thuộc hàng chục lĩnh vực, Ủy ban cho biết kỹ thuật là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nghiên cứu liên quan đến Harvard và “7 trường quốc phòng” của Trung Quốc.

Trước những cáo buộc của Ủy ban, Harvard nói với Fox News Digital rằng trường “cũng như Ủy ban, quan ngại về các rủi ro địa chính trị, trong đó có những mối đe dọa do ĐCSTQ gây ra, đồng thời cam kết tiếp tục thực hiện các chương trình nghiên cứu và học thuật, cùng với các biện pháp bảo vệ đặt lợi ích của Mỹ và an ninh quốc gia lên hàng đầu”.

Ngoài hợp tác nghiên cứu, báo cáo còn xem xét một chương trình đào tạo dành cho lãnh đạo do Harvard phối hợp với Cơ quan Bảo hiểm Y tế Quốc gia Trung Quốc. Chương trình này từng đào tạo các quan chức y tế Trung Quốc về hệ thống bảo hiểm y tế quốc tế.

Theo báo cáo, danh sách tham dự và đăng ký một số khóa học cho thấy các quan chức có liên hệ với Binh đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương từng nằm trong danh sách.

Năm 2020, Bộ Tài chính Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt đối với Binh đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương với lý do xảy ra các hành vi vi phạm nhân quyền đối với người Duy Ngô Nhĩ và các nhóm dân tộc thiểu số khác tại Tân Cương.

Tuy nhiên, báo cáo cho biết hiện chưa rõ các quan chức thuộc Binh đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương có thực sự tham gia tất cả các chương trình liên quan hay không.

Báo cáo cáo buộc rằng trong một khóa học trực tuyến năm 2020, thông tin về những người tham gia mà Harvard nhận được trước đó đã bao gồm các quan chức có liên hệ với Binh đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương, nhưng trường không có thêm hành động nào.

Báo cáo tiếp tục cáo buộc hệ thống quản lý an ninh nghiên cứu của Harvard quá tập trung vào việc tuân thủ pháp luật ở cấp độ kỹ thuật, mà chưa xem xét đầy đủ những rủi ro an ninh quốc gia rộng hơn có thể phát sinh khi hợp tác với các tổ chức có liên hệ với quân đội ĐCSTQ.

Báo cáo dẫn lời một quan chức phụ trách hoạt động nghiên cứu của Harvard cho biết trường đánh giá hoạt động hợp tác nghiên cứu theo từng trường hợp, chứ không cấm toàn diện mọi nghiên cứu liên quan đến công nghệ robot hoặc các tổ chức Trung Quốc.

Ủy ban chỉ trích cách tiếp cận này, cho rằng ngay cả khi nghiên cứu không chứa thông tin mật và nhằm mục đích công bố công khai, chỉ cần đối tác nghiên cứu là một thực thể thuộc hệ thống “quân-dân hợp nhất” của Trung Quốc thì nghiên cứu vẫn có thể có ứng dụng quân sự.

Ngoài ra, Ủy ban cũng đặt câu hỏi về “Harvard Global Research and Support Services”, một tổ chức phi lợi nhuận có liên hệ với Đại học Harvard. Khi Harvard không thể trực tiếp chấp nhận những điều kiện do bên tài trợ đưa ra, tổ chức này có thể tiếp nhận khoản tài trợ đó.

Ủy ban cáo buộc tổ chức này có thể được sử dụng để né tránh các yêu cầu của chính phủ liên bang về khai báo các khoản tài trợ nước ngoài, đồng thời báo cáo thừa nhận Harvard nhiều khả năng sẽ phản đối cáo buộc này.

Cuối cùng, báo cáo khuyến nghị Harvard cấm hợp tác nghiên cứu với các thực thể nằm trong danh sách hạn chế hoặc trừng phạt của Chính phủ Mỹ, đồng thời tập trung và thống nhất công tác giám sát an ninh nghiên cứu.

Ủy ban cũng kêu gọi Quốc hội Mỹ tiếp tục tăng cường các yêu cầu công khai nguồn tài trợ nước ngoài của các trường đại học.